Thuốc điều trị động kinh

  03:42 PM 13/04/2023

Lịch sử điều trị bệnh động kinh bắt đầu với việc sử dụng kali bromid khi Locock ghi nhận tác dụng chống động kinh của thuốc này vào năm 1857. Đến những năm 1900 – 1985, đã có nhiều thuốc chống động kinh thế hệ 1 được đưa vào sử dụng như barbiturat, benzodiazepin, carbamazepin, ethosuximid, phenyltoin, acid valproic… Từ năm 1989 đến 2021, đã có hơn 18 loại thuốc chống động kinh (antiseizure medication – AMS) thế hệ 2 được đưa ra thị trường giúp gia tăng đáng kể chọn lựa điều trị cho bác sĩ và bệnh nhân. Tuy nhiên, không có thuốc nào kiểm soát tất cả các thể động kinh, và mỗi bệnh nhân lại cần các loại thuốc khác nhau, số lượng thuốc khác nhau.

Vì cơ chế bệnh sinh của động kinh chưa được hoàn toàn biết rõ cho nên các thuốc chữa động kinh chỉ ức chế được các triệu chứng của bệnh chứ không dự phòng và điều trị được bệnh. Thuốc phải được sử dụng lâu dài, có nhiều tác dụng không mong muốn. Do đó cần được giám sát nghiêm ngặt.

1. Nguyên tắc sử dụng thuốc chống động kinh

Có một số nguyên tắc chung khi sử dụng thuốc chống động kinh:

  • Chỉ dùng thuốc khi đã có chẩn đoán lâm sàng chắc chắn.
  • Chọn các thuốc đặc trị cho từng loại cơn theo thứ tự ưu tiên, thường bắt đầu bằng đơn trị liệu. Nên tránh sử dụng nhiều loại thuốc nếu có thể vì có thể xảy ra tác dụng phụ, kém tuân thủ và tăng nguy cơ tương tác thuốc tăng.
  • Cho liều từ thấp tăng dần, thích ứng với các cơn. Cần điều chỉnh liều phù hợp với mức dung nạp thuốc của bệnh nhân. Một số bệnh nhân có triệu chứng nhiễm độc thuốc ngay cả khi nồng độ thuốc trong máu chỉ ở mức thấp; những người khác chịu được mức cao mà không có triệu chứng.
  • Không ngừng thuốc đột ngột. Khi động kinh được kiểm soát, phải tiếp tục dùng thuốc cho đến khi bệnh nhân không gặp phải các cơn động kinh trong ít nhất 2 năm. Vào thời điểm đó, có thể cân nhắc ngưng dùng thuốc. Hầu hết các thuốc này có thể được giảm liều 10% mỗi 2 tuần.
  • Phải đảm bảo cho bệnh nhân uống đều hàng ngày, không quên.
  • Cấm uống rượu trong quá trình dùng thuốc.
  • Chờ đợi đủ thời hạn để đánh giá hiệu quả của điều trị:
  • Vài ngày với ethosuximid, benzodiazepin
  • Hai ba tuần với phenobarbital, phenytoin
  • Vài tuần với valproic acid.
  • Các thuốc điều trị động kinh khác nhau có đặc điểm khác nhau. Một số loại thuốc như phenytoin, valproat… có thể dùng tiêm tĩnh mạch hoặc uống, nên đạt đến ngưỡng điều trị mục tiêu rất nhanh. Các thuốc khác như lamotrigin, topiramat… phải bắt đầu với liều tương đối thấp và tăng dần trong vài tuần tới liều điều trị chuẩn, dựa trên cân nặng của người bệnh.
  • Hiểu rõ các tác dụng phụ, tác dụng không mong muốn của từng thuốc để theo dõi kịp thời. Nếu bệnh nhân gặp phải độc tính của thuốc trước khi kiểm soát được động kinh, giảm liều xuống dưới liều gây độc trước đó. Sau đó, thêm một loại thuốc khác với liều thấp, tăng liều dần cho đến khi kiểm soát được động kinh. Cần phải theo dõi chặt chẽ bệnh nhân vì 2 thuốc có thể tương tác, ảnh hưởng tới tỷ lệ trao đổi chất, giáng hóa của một trong hai thuốc. Thuốc ban đầu nên giảm liều chậm, rồi mới có thể dừng hoàn toàn.
  • Nếu có thể, kiểm tra nồng độ của thuốc trong máu khi cần. Liều thích hợp của thuốc chống động kinh là liều thấp nhất ngăn chặn tất cả các cơn động kinh với ít tác dụng phụ nhất, bất kể nồng độ thuốc trong máu. Nồng độ thuốc trong máu chỉ mang tính hướng dẫn điều trị. Khi đã đáp ứng với thuốc, đánh giá lâm sàng sau đó sẽ hữu ích hơn việc đo nồng độ thuốc trong máu.

2. Lựa chọn thuốc chống động kinh để điều trị lâu dài

Các loại thuốc được ưu tiên khác nhau tùy thuộc vào loại động kinh

Bảng 1: Lựa chọn thuốc cho các thể động kinh

Các thuốc chống động kinh cổ điển:

Các thuốc chống động kinh thế hệ mới:

Không khuyến cáo dùng thuốc chống cho giật cho tình trạng co giật do hội chứng cai rượu. Thay vào đó, điều trị hội chứng cai có xu hướng ngăn ngừa co giật. Điều trị thường bao gồm benzodiazepin.

3. Các tác dụng bất lợi

Các tác dụng phụ khác nhau của thuốc chống động kinh có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn thuốc cho từng bệnh nhân. Có thể giảm thiểu một số tác dụng phụ của thuốc chống động kinh bằng cách tăng liều dần. Nhìn chung, các thuốc chống co giật mới có những ưu điểm, như khả năng dung nạp tốt hơn, ít gây an thần và ít tương tác thuốc hơn.

Bảng 2: Tác dụng phụ của một số thuốc chống động kinh

Thuốc

Chỉ định

Tác dụng phụ thường gặp

Carbamazepin

Cơn co giật co cứng co giật khởi phát toàn thể, khởi phát khu trú và hỗn hợp (nhưng không dùng trong động kinh vắng ý thức, co giật mất trương lực.

Nhìn đôi, chóng mặt, rung giật nhãn cầu, rối loạn tiêu hóa (GI), loạn cận ngôn, mệt lử, số lượng bạch cầu (WBC) thấp (3000 đến 4000/mcL), hạ natri máu, phát ban nặng, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson (ở 5%)

Các tác dụng phụ khác có thể xảy ra: giảm bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu, độc tính trên gan và thiếu máu bất sản.

Clonazepam

Cơn động kinh vắng ý thức không điển hình trong hội chứng Lennox-Gastaut, co giật mất trương lực và co giật múa giật, co thắt động kinh

Có thể là cơn động kinh vắng ý thức khó chữa bằng ethosuximide

Buồn ngủ, mất điều hòa, bất thường về hành vi, khả năng dung nạp một phần hoặc hoàn toàn với các tác dụng có lợi, thường trong 1 đến 6 tháng*

Ethosuximide

Cơn động kinh vắng ý thức

Buồn nôn, mệt lử, chóng mặt, nhức đầu

Giảm bạch cầu hoặc giảm bạch cầu, giảm toàn thể huyết cầu, viêm da, lupus ban đỏ hệ thống đặc ứng

Gabapentin

Liệu pháp bổ trợ cho cơn co giật khu trú ở bệnh nhân từ 3 đến 12 tuổi và là liệu pháp bổ trợ cho cơn động kinh khởi phát có hoặc không có cơn co ứng co giật cục bộ khu trú sang hai bên ở bệnh nhân trên 12 tuổi.

Buồn ngủ, chóng mặt, tăng cân, nhức đầu

Ở bệnh nhân từ 3 đến 12 tuổi, buồn ngủ, hành vi hung hăng, tâm trạng thất thường, tăng động

Lamotrigine

Liệu pháp bổ trợ cho cơn động kinh khởi phát khu trú ở bệnh nhân từ 2 tuổi trở lên, cơn động kinh toàn thể khởi phát trong hội chứng Lennox-Gastaut và cơn co cứng co giật khởi phát toàn thể.

Ở những bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên, đơn trị liệu thay thế cho các cơn co cứng co giật cục bộ khởi phát hoặc khu trú hai bên sau khi ngừng sử dụng đồng thời thuốc chống động kinh gây ra enzym (ví dụ, carbamazepine, phenytoin, phenobarbital) hoặc valproate.

Đau đầu, chóng mặt, buồn ngủ, mất ngủ, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, nhìn đôi, thất điều, bất thường về kinh nguyệt, phát ban (2-3%), tiến triển thành Hội chứng Stevens-Johnson ở 1/50 đến 100 trẻ và 1/1000 người lớn.

Đợt cấp của co giật múa giật ở người lớn

Levetiracetam

Trạng thái động kinh

Điều trị hỗ trợ cho cơn động kinh khởi phát khu trú ở bệnh nhân ≥ 4 tuổi, cơn co giật co cứng co giật khởi phát toàn thể ở bệnh nhân > 6 tuổi, co giật múa giật ở bệnh nhân > 12 tuổi và động kinh múa giật vị thành niên

Mệt mỏi, suy nhược, mất điều hòa, thay đổi tâm trạng và hành vi

Oxcarbazepine

Động kinh khởi phát khu trú ở bệnh nhân từ 4 đến 16 tuổi là một liệu pháp bổ trợ và đối với động kinh khởi phát khu trú ở người lớn

Mệt mỏi, buồn nôn, đau bụng, nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, giảm bạch cầu, nhìn đôi, hạ natri máu (ở 2,5%).

Phenobarbital

Co giật co cứng co giật khởi phát toàn thể, co giật khởi phát khu trú, tình trạng động kinh liên tục và không có hồi tỉnh, động kinh sơ sinh

Buồn ngủ, rung giật nhãn cầu, mất điều hòa,

Ở trẻ em, khó khăn trong học tập, tăng động nghịch thường

Thiếu máu, phát ban đặc ứng

Phenytoin

Co giật co cứng co giật từ khu trú đến hai bên, co giật suy giảm nhận biết khu trú, động kinh trạng thái co giật

Phòng ngừa co giật thứ phát sau chấn thương đầu

Thiếu máu nguyên bào khổng lồ, tăng sản nướu, rậm lông, bệnh hạch, mất mật độ xương

Với nồng độ trong máu cao, phenytoin, rung giật nhãn cầu, mất điều hòa, rối loạn tiêu hóa, hôn mê, khó chịu, buồn nôn, nôn, lú lẫn

Phát ban, viêm da tróc vảy đặc ứng

Hiếm khi cơn co giật kịch phát

Topiramate

Động kinh khởi phát khu trú ở bệnh nhân ≥ 2 tuổi, cơn động kinh vắng ý thức không điển hình

Liệu pháp đơn trị liệu bước hai hoặc liệu pháp bổ trợ cho các cơn co cứng co giật khởi phát toàn thể là chủ yếu

Giảm sự tập trung, dị cảm, mệt mỏi, rối loạn ngôn ngữ, lú lẫn, chán ăn, giảm cân, giảm tiết mồ hôi, toan chuyển hóa, sỏi thận (1-5%), loạn thần (ở 1%).

Valproate

Cơn động kinh vắng ý thức (điển hình và không điển hình), động kinh khởi phát khu trú, cơn động kinh co cứng co giật, co giật múa giật, động kinh múa giật trẻ vị thành niên, co thắt động kinh, co giật ở trẻ sơ sinh hoặc co giật do sốt, co giật co cứng mất trương lực trong hội chứng Lennox-Gastaut.

Trạng thái động kinh

Thông thường không nên dùng cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

Buồn nôn, nôn, không dung nạp qua đường tiêu hóa, tăng cân, rụng tóc có hồi phục (ở 5%), buồn ngủ thoáng qua, giảm bạch cầu trung tính thoáng qua, run

Bệnh não do tăng ammoniac máu đặc ứng

Hiếm hơn, tử vong do hoại tử gan‡, đặc biệt ở trẻ nhỏ bị khiếm khuyết hệ thần kinh điều trị bằng nhiều thuốc chống co giật.

* Các phản ứng nghiêm trọng với clonazepam rất hiếm.

4. Sử dụng thuốc chống động kinh cho phụ nữ có thai

Tỷ lệ thai nhi có dị dạng hoặc tử vong ở người  mẹ có động kinh được điều trị cao hơn người bình thường 2 - 3 lần. Các cơn động kinh cũng thường tăng lên khi có thai, có thể do nồng độ thuốc trong huyết tương giảm.

Khi có thai vẫn không được ngừng thuốc, tuy nhiên, tuỳ theo từng trường hợp, có thể giảm  liều, nhất là trong 3 tháng đầu. Trẻ mới đẻ ở những người mẹ điều trị bằng phenobarbital, primidon hoặc phenytoin có thể gặp tai biến chảy máu do thiếu vitamin K, cần bổ sung dự phòng trước bằng vitamin K.

Cần trao đổi với bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi sử dụng thuốc chống động kinh đối với bệnh nhân là phụ nữ mang thai hoặc có ý định mang thai.

Biên soạn: DS. Nguyễn Thị Hải Yến (A) - Khoa Dược, Bệnh viện TWQĐ 108

 

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định 2058/QĐ-BYT/2020 ngày 14 tháng 5 năm 2020 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường gặp”
  2. Giáo trình Dược lý học 2007, Đại học Y Hà Nội
  3. Giáo trình Dược lý học 2007, Đại học Dược Hà Nội
  4. Kanner AM, Ashman E, Gloss D, et al: Practice guideline update: Efficacy and tolerability of the new antiepileptic drugs I: Treatment of new-onset epilepsy. Report of the Guideline Development, Dissemination, and Implementation Subcommittee of the American Academy of Neurology and the American Epilepsy Society.
  5. Kanner AM, Ashman E, Gloss D, et al: Practice guideline update summary: Efficacy and tolerability of the new antiepileptic drugs II: Treatment-resistant epilepsy.
Chia sẻ