Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán các bệnh lý tiền liệt tuyến


Tiền liệt tuyến là tuyến lớn có dạng hình nón được bao bọc bằng vỏ fibrin, có đáy tựa vào đáy bàng quang, vùng cổ bàng quang và đỉnh ở dưới dính vào cân sinh dục tiết niệu. Tuyến tiền liệt bình thường có hình tam giác trên mặt cắt ngang, dọc trên xương mu, với trọng lượng và kích thước như sau: ngang 2,5-3cm; cao 3-3,5cm; trước sau 2,5-3cm, trọng lượng từ 15-25gram.Tiền liệt tuyến là nơi thường phát sinh các bệnh lý khi nam giới bước vào tuổi trung niên. Để có thể chẩn đoán, nam giới cần thực hiện siêu âm tiền liệt tuyến để phát hiện các bệnh liên quan. Có hai kĩ thuật siêu âm tiền liệt tuyến: siêu âm qua đường bụng và siêu âm qua đường trực tràng. Với mỗi kĩ thuật có yêu cầu chuẩn bị đối với bệnh nhân và yêu cầu đối với đầu dò siêu âm khác nhau để chẩn đoán bệnh tuyến tiền liệt ở nam giới.

Với kĩ thuật siêu âm qua đường bụng thì yêu cầu bệnh nhân phải nhịn tiểu ở mức độ vừa phải (có cảm giác mót tiểu).

Với kĩ thuật siêu âm qua đường trực tràng thì bệnh nhân không cần nhịn tiểu, một số trường hợp có thể yêu cầu bệnh nhân đi tiểu trước khi thăm khám.

Một số bệnh lý hay gặp của tiền liệt tuyến:

  1. Nang tiền liệt tuyến

Nang của tiền liệt tuyến có thể là bẩm sinh hay mắc phải với nhiều nguồn gốc khác nhau như ống Muller, túi bầu dục tiền liệt tuyến, ống dẫn tinh, ống phóng tinh, ống tuyến của tiền liệt tuyến – nang hình thành do cơ chế tắc và giãn ra các ống này, hoặc nguồn gốc từ thoái hóa nang của mô tuyến.

Lâm sàng có thể không có triệu chứng gì, đôi khi có triệu chứng như đau, tức vùng tầng sinh môn, tiểu khó, các triệu chứng xuất hiện tùy thuộc vào vị trí, kích thước và diễn biến trong nang.

Hình ảnh siêu âm cho thấy đó là cấu trúc dạng nang điển hình. Tùy theo vị

trí của nang mà có thể đặt giả thuyết về nguồn gốc của nang: chẳng hạn nang có nguồn gốc ống Muller và nang túi bầu dục là hai loại nang bẩm sinh thường gặp có vị trí trên đường giữa và gần ụ núi; các nang ứ trệ có nguồn gốc ống tuyến tiền liệt thì định vị bất kì vị trí nào trong 3 vùng tuyến.

  1. Phì đại tiền liệt tuyến

Phì đại tiền liệt tuyến là tình trạng giống như u thường gặp ở nam giới trên 40 tuổi (hiếm khi gặp dưới lứa tuổi 30 ), theo thống kê gặp ở 85% đàn ông trên 80 tuổi. Về mặt mô học cho thấy đó là những nhân tăng sản của mô tuyến trong vùng chuyển tiếp, vùng quanh niệu đạo, dần dần các nhân tăng sản lớn ra.

Lâm sàng, các triệu chứng của tiết niệu xuất hiện khi nhân tăng sản chèn ép vào đường đi của niệu đạo, cổ bàng quang; các triệu chứng là tiểu rắt, tiểu khó, tiểu nhiều lần, tiểu đêm, tia nhỏ giọt…khi tắc nghẽn đường thoát của bàng quang tăng thì sẽ đưa đến loạt hậu quả trên đường tiết niệu: bàng quang chống đối, trào ngược bàng quang - niệu quản, ứ nước niệu quản - thận.

Hình ảnh siêu âm trong giai đoạn sớm các nhân tăng sản hiện diện như những cấu trúc giảm âm kích thước nhỏ, định vị trong vùng chuyển tiếp; khi quá trình tiến triển, các nhân tăng sản tăng kích thước và tăng số lượng, đặc biệt là sự phát triển theo hướng trước- sau đội vào lòng bàng quang, làm cho toàn bộ tuyến lớn ra, và trên mặt cắt ngang tiền liệt tuyến mất hình dạng trăng lưỡi liềm mà lúc này có dạng hình tròn; kích thước lớn ra làm khối tăng sản có xu hướng chèn ép vùng tuyến ngoài (vùng trung tâm và vùng ngoại vi), tại ranh giới của phần tuyến bị chèn ép này tạo nên đường viền có độ hồi âm rất giảm âm- ranh giới này được gọi là bao phẫu thuật. Nhân tăng sản cũng trở nên không đồng nhất về mặt cấu trúc hồi âm.

  1. Viêm tiền liệt tuyến

 Viêm tiền liệt tuyến có thể do nguyên nhân vi khuẩn hay không do vi khuẩn, có thể ở dạng cấp tính hay ở dạng mạn tính.Viêm tiền liệt tuyến do vi khuẩn thường có  cơ chế  trào  ngược, ít gặp hơn là do cơ chế xuyên trực tràng,

xuyên tầng sinh môn do sau thực hiện một vài thủ thuật nào đó.

 

Bệnh cảnh lâm sàng cấp tính có thể gặp là sốt, suy nhược, đau lưng, đau vùng tầng sinh môn. Khám thực thể sờ thấy tiền liệt tuyến sưng lớn, ấn đau, mềm. Dạng viêm mạn tính thì các triệu chứng như đau mơ hồ hay cảm giác khó chịu vùng tầng sinh môn cùng với các triệu chứng của kích thích đường tiết niệu (cảm giác mót tiểu, đi tiểu nhiều lần...)

 

 

Hình ảnh siêu âm trong thể cấp tính cho thấy hiện diện những vùng giảm âm ở mô bao bọc quanh niệu đạo, nhu mô tuyến giảm âm và gia tăng hiện tượng tăng cường âm qua mô tuyến, dấu hiệu này thể hiện rõ ở vùng ngoại vi, ngoài ra còn có thể thấy ranh giới ngoài của bao tuyến trở nên nhạt nhòa. Quá trình viêm có thể tiến triển thành áp xe tiền liệt tuyến. Hình ảnh siêu âm của áp xe tiền liệt tuyến là cấu trúc giới hạn rõ có vỏ hình thành, bên trong chứa dịch trống âm hoặc giảm âm, khi ổ áp xe đạt kích thước lớn làm biến đổi cấu trúc giải phẫu của tiền liệt tuyến. Trong thể mạn tính thì nhu mô vùng ngoại vi trở nên không đồng nhất về cấu trúc hồi âm, thường hiện diện nhiều nốt vôi hóa nhỏ rải rác.

          4. Ung thư tiền liệt tuyến

Ở các nước Âu - Mỹ, ung thư tiền liệt tuyến là loại ung thư thông thường nhất ở nam giới, và giữ vị trí thứ hai trong nhóm nguyên nhân tử vong do ung thư.

Lâm sàng có thể có các triệu chứng của suy sụp toàn trạng như đau xương, suy nhược, sút cân, thiếu máu...và các triệu chứng của tắc nghẽn đường thoát của bàng quang.

Siêu âm tiền liệt tuyến qua đường trực tràng là kỹ thuật đầy hứa hẹn khi cung cấp thông tin chính xác về định khu của thương tổn mà hai phương pháp thăm khám tiền liệt tuyến bằng tay qua đường trực tràng và định lượng PSA nghi ngờ. Hình ảnh siêu âm của ung thư tiền liệt tuyến là ổ tổn thương giảm âm giới hạn không rõ. Vị trí tìm thấy của ung thư tiền liệt tuyến theo tỷ lệ như sau: 80% ung thư tiền liệt tuyến định vị ở phần tuyến ngoài trong đó thì 75 % nằm ở vùng ngoại vi và thường thì thương tổn được tìm thấy bên dưới bao không quá 3mm; khi thương tổn có kích thước lớn thì làm thay đổi hoàn toàn cấu trúc giải phẫu của tuyến. Sự lan tràn của ung thư thường xảy ra sớm khi thương tổn định vị sát bao, gần vùng có hình dạng tứ giác nằm ngay bên dưới đỉnh tiền liệt tuyến và sau niệu đạo, hay khi thương tổn định vị trong vùng trung tâm gần với đường đi của ống dẫn tinh và ống phóng tinh; biểu hiện cho sự lan tràn của u là hình thành xóa mất lớp mô liên kết - mỡ tăng âm xung quanh bao và trong vùng hình tứ giác nói trên. Ngoài ra, kỹ thuật siêu âm Doppler màu cho phép đánh giá sự tăng sinh mạch trong tổ chức u.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. “Siêu âm tổng quát”, GS. TS Phạm Minh Thông, Nhà xuất bản Đại học Huế, 2015

2. “Siêu âm bụng tổng quát”, Nguyễn Phước Bảo Quân, Nhà xuất bản Y học, 2010.

 Bác sỹ Nguyễn Thị Ngọc Anh

Khoa Chẩn đoán chức năng

Chia sẻ