Siêu âm u tuyến cận giáp

Cận giáp ( Parathyroid ) là những tuyến nhỏ, hình oval, nằm sát cạnh tuyến giáp, kích thước khoảng 6x4x2mm, mỗi tuyến nặng khoảng 0,5g. Khoảng 85% bệnh nhân có 4 tuyến cận giáp, bao gồm 2 tuyến cận giáp trên và 2 tuyến cận giáp dưới. Tuy nhiên, cũng có một số ít trường hợp có 5 – 6 tuyến cận giáp, hoặc hiếm hơn là 3 tuyến cận giáp.

Khoảng 85% bệnh nhân có 4 tuyến cận giáp, bao gồm 2 tuyến cận giáp trên và 2 tuyến cận giáp dưới. Tuy nhiên, cũng có một số ít trường hợp có 5 – 6 tuyến cận giáp, hoặc hiếm hơn là 3 tuyến cận giáp.

Thông thường, tuyến cận giáp trên nằm ở mặt sau, phía trên hoặc giữa tuyến giáp, nhưng cũng có thể nằm ở vị trí khác như trung thất, cạnh thực quản, dưới hàm…Tuyến cận giáp dưới nằm ở phía sau, khoảng 1/3 dưới của 2 thùy giáp, hoặc có thể thấp hơn. Tuyến cận giáp có vỏ bọc riêng và tách rời khỏi tuyến giáp, nối với tuyến giáp bằng một bó mạch-thần kinh, bao gồm động mạch giáp dưới, đám rối tĩnh mạch, hạch lympho cổ, thần kinh giao cảm và các dây thần kinh quặt ngược.

Tuyến cận giáp thường nằm sau tuyến giáp

Tuyến cận giáp tiết ra parathyroid hormon (PTH). Thời gian bán rã của PTH rất ngắn, chỉ khoảng 10 phút. PTH bị giáng hoá chủ yếu ở thận.

PTH  tác  dụng trên màng tế bào làm  cho canxi  đi vào tế bào một cách  tích

cực và  dễ dàng  hơn.  PTH làm tăng canxi huyết và  phosphat niệu. Hoạt động của

PTH chủ yếu diễn ra tại xương, thận và ruột:

- Tại xương, PTH giúp tăng phân phối calci và phospho vào máu.

- Ở thận, PTH tạo thuận lợi để tăng cường tái hấp thu calci ở ống thận sau khi đã lọc qua cầu thận. PTH làm giảm tái hấp thu phospho cũng như các H+ và Mg++ ở ống thận. Ức chế ống thận hấp thu phospho và bicarbonat. Kích thích tổng hợp 1,25 – dihydroxycholecalciíerol ở thận. Kết quả của tất cả các tác dụng này là làm tăng lượng calci ion hóa lưu hành trong máu.

- Vitamin D là một hormon có tác dụng và cơ chế tổng hợp phức tạp. Chole – calciferol (vitamin D3) được tổng hợp tại da từ 7- dehydrocholesterol dưới tác dụng của bức xạ tia cực tím. Để trở thành dạng hợp chất có tác dụng sinh học đầy đủ cần trải qua hai quá trình hydroxyl hóa liên tiếp: quá trình thứ nhất xảy ra ở gan tạo thành 25 – hydroxycholecalciferol (25[OH]D3) và quá trình thứ hai xảy ra ở thận tạo thành vitamin D có tác dụng sinh học, chuyển hóa mạnh nhất 1,25 – dihydroxycholecalciferol (1,25[OH]2D3). Tác dụng chính của vitamin D là tăng cường hấp thu calci và phospho tại ruột.

U tuyến cận giáp ( Parathyroid Adenoma ) có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu ở xuất hiện ở bệnh nhân từ 50-70 tuổi. Phụ nữ có nguy cơ mắc u tuyến cận giáp cao gấp 3 lần nam giới. U tuyến cận giáp ( Parathyroid Adenoma ) khổng lồ có thể nặng tới 2g.

Khoảng 80-85% các trường hợp cường chức năng tuyến cận giáp có liên quan tới u tuyến cận giáp. Một số triệu chứng chính của cường chức năng tuyến cận giáp như:

Tại thận: 80% bệnh nhân cường chức năng tuyến cận giáp bị sỏi thận.

Tại xương: đau ở các xương dài, cột sống, xương chậu. Có thể xảy ra gãy xương tự nhiên, lâu liền. Răng rụng sớm, biến dạng ở xương xảy ra muộn hơn.

Thần kinh-cơ: Có thể yếu cơ mức độ trung bình hoặc nặng gây khó khăn khi vận động, teo cơ. Đa số bệnh nhân rất mệt mỏi, lo lắng,  suy giảm trí nhớ, dễ bị ức chế, tăng phản xạ thần kinh.

Tiêu hóa: Chán ăn, buồn nôn, đau thượng vị, táo bón, có thể loét dạ dày-hành tá tràng.

Xét nghiệm: Canxi++ tăng trên 2,75 mmol/l, nồng độ Ca++ có giá trị hơn canxi toàn phần. Nồng độ hormon cận giáp (PTH) tăng. Canxi niệu/24 giờ tăng.

Ngoài chẩn đoán thông qua lâm sàng và các xét nghiệm máu, thì siêu âm là một trong những phương pháp chẩn đoán đầu tay với u tuyến cận giáp, đặc biệt hiệu quả với những trường hợp u có tăng sản, tăng kích thước tuyến cận giáp. Siêu âm có ưu điểm nhanh gọn, rẻ tiền, đánh giá được chi tiết hình ảnh tuyến, tình trạng tăng sinh mạch, các nhánh mạch nuôi.

                                           

Đặc điểm hình ảnh trên siêu âm 2D

Thông thường là một khối đặc, giảm âm, tương đối đồng nhất, nằm sau tuyến giáp. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp u tuyến cận giáp có dạng nang dịch.

Có thể thấy hình ảnh vỏ của khối rõ, phân chia khối với tuyến giáp.

Trên siêu âm Doppler:

Hình ảnh tăng sinh mạch ở cả ngoại vị và trung tâm khối, nhưng chủ yếu là ở vùng ngoại vi

Có thể thấy phân nhánh mạch nuôi từ động mạch giáp trạng dưới, đi vào 1 cực của khối.

Có hình ảnh động mạch nuôi phân nhánh chạy ở vùng ngoại vi trước khi đi sâu vào trung tâm.

Ngoài ra, nhu mô tuyến giáp phía trước có thể xuất hiện 1 vùng tăng sinh mạch bất đối xứng ( là 1 dấu hiệu có thể xác định vị trí của u tuyến cận giáp ).

Trên siêu âm đàn hồi:

Khối u tuyến cận giáp có độ cứng khá thấp, hầu như thấp hơn nhiều so với u tuyến giáp lành tính.

Độ cứng của u tuyến cận giáp là khoảng 4,74 ± 2,74 kPa.

Ngoài ra, còn một số phương pháp khác chẩn đoán u tuyến cận giáp như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hoặc xạ hình tuyến cận giáp.
Hiện nay, điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật là 2 phương pháp chính trong điều trị u tuyến cận giáp. Tuy nhiên, điều trị ngoại khoa, phẫu thuật cắt bỏ u tuyến cận giáp vẫn là phương pháp phổ biến và được áp dụng nhiều nhất, giúp ngăn ngừa hiệu quá biến chứng loãng xương và sỏi thận.

                    BS Nguyễn Mạnh Hùng, Khoa C7

Chia sẻ