Cơn tăng huyết áp cấp cứu và một số điều cần biết

Tăng huyết áp là bệnh cảnh lâm sàng thường gặp, và là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh lý mạch vành, mạch máu não. Cơn tăng huyết áp (hypertensive crisis) là khi huyết áp tăng lên nhanh chóng và nghiêm trọng (huyết áp tâm thu ≥ 180 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 120 mmHg), có thể gặp ở 1-3% những bệnh nhân tăng huyết áp mạn tính. Gồm 2 thể lâm sàng: cơn tăng huyết áp cấp cứu và tăng huyết áp khẩn trương.

1. Cơn tăng huyết áp cấp cứu

      Tăng huyết áp cấp cứu là tăng huyết áp nghiêm trọng (huyết áp tâm thu ≥ 180mmHg, và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 120mmHg), có kèm theo tổn thương cơ quan đích mới xuất hiện hoặc nặng hơn.     

      Tổn thương cơ quan đích thường gặp là: Bệnh não tăng huyết áp, xuất huyết nội sọ, đột quỵ thiếu máu não, nhồi máu cơ tim cấp, suy thất trái cấp tính kèm phù phổi, đau ngực không ổn định, phình tách động mạch chủ, suy thận cấp và sản giật.

 

2. Tăng huyết áp khẩn trương

       Tăng huyết áp khẩn trương là tình huống lâm sàng có huyết áp tăng cao kịch phát (HATT ≥ 180mmHg hoặc HATTr ≥ 120mmHg), nhưng không có bằng chứng tổn thương cơ quan đích. Thường gặp ở những bệnh nhân không tuân thủ điều trị, hoặc ngưng thuốc hạ áp đang dùng.

        Điều trị tăng huyết áp khẩn trương thường là dùng thuốc uống và hạ huyết áp từ từ trong 24 - 48 giờ, huyết áp cần hạ từ từ vì hiện không có bằng chứng về lợi ích trong việc hạ nhanh huyết áp ở những bệnh không có dấu hiệu tổn thương cơ quan đích mà ngược lại việc hạ HA nhanh quá có thể gây tổn thương cơ quan đích.

       Điều quan trọng là không được dùng thuốc gây hạ huyết áp mạnh, đột ngột có thể gây tổn thương đáng kể do giảm tưới máu. Trong thực hành lâm sàng, việc dùng thuốc nifedipine nhỏ dưới lưỡi để hạ áp trong tăng huyết áp khẩn trương đã không còn được khuyến cáo vì có thể gây hạ huyết áp nhanh, nghiêm trọng, có thể khởi phát các biến cố thiếu máu não, thiếu máu cơ tim.

3. Điều trị tăng huyết áp cấp cứu

      Mục tiêu điều trị tăng huyết áp cấp cứu là nên hạ huyết áp tâm thu không quá 25% trong khoảng 1 giờ đầu, và nếu ổn định giảm xuống 160/100mmHg trong 2-6 giờ tiếp theo và thận trọng hạ huyết áp về bình thường sau 24 - 48 giờ. Một số trường hợp có chỉ định riêng biệt (bệnh nhân lóc tách động mạch chủ - Huyết áp tâm thu (HATT) cần hạ xuống <120mmHg trong giờ đầu, bệnh nhân có tiền sản giật, sản giật, bệnh nhân có cơn THA do u tủy thượng thận - HATT cần giảm xuống < 140mmHg trong giờ đầu.

       Việc xác định các cơ quan đích bị tổn thương và các can thiệp điều trị đặc biệt khác ngoài việc hạ áp, xác định các yếu tố làm tình trạng THA nặng thêm như đau, lo lắng, sử dụng thuốc kích thích như amphetamine, cocaine…là rất cần thiết.

      Những bệnh nhân tăng huyết áp cấp cứu ngoài việc cần điều trị ngay lập tức còn cần chẩn đoán tìm nguyên nhân gây tăng huyết áp. Tuỳ theo dân số, người ta nhận thấy có khoảng 20% - 50% bệnh nhân tăng huyết áp cấp cứu có nguyên nhân thứ phát gây tăng huyết áp.

     Thuốc lý tưởng để điều trị tăng huyết áp là phải khởi phát nhanh, hiệu lực mạnh, hồi phục nhanh chóng, không gây nhịp nhanh, ít tác dụng phụ.

      Một số thuốc truyền tĩnh mạch thường được dùng hiện nay: Sodium nitroprusside, nicardipine, nitroglycerine, labetalol, hydralazine...

 

Tóm lại, tăng huyết áp cấp cứu là tình trạng cần được hạ áp ngay lập tức và sử dụng những loại thuốc phù hợp với từng bệnh cảnh lâm sàng, theo sự chỉ định của bác sĩ, để giảm tối thiểu các biến chứng nặng, và đe dọa tính mạng. Nếu HA của bệnh nhân ≥180/120mmHg và có các triệu chứng liên quan đến tổn thương cơ quan đích như: đau ngực, khó thở, đau lưng, tê bì / yếu liệt chi, suy giảm ý thức, nói khó, nhìn mờ, buồn nôn hoặc nôn, đó được coi là tình trạng tăng huyết áp cấp cứu và cần gọi cấp cứu ngay để có thể nhận được sự chăm sóc y tế kịp thời tránh những tổn thương nghiêm trọng đe dọa tính mạng.

BS. Ngô Trí Công – Khoa Cấp cứu – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Chia sẻ