Nhằm cập nhật kiến thức và nâng cao kỹ năng sử dụng thuốc chống đông trong dự phòng và điều trị, từ ngày 01/6 đến 30/8/2026, Bệnh viện TWQĐ 108 tổ chức lớp tập huấn "Sử dụng thuốc chống đông trên lâm sàng" dành cho bác sĩ, dược sĩ Mạng lưới Quản lý sử dụng thuốc chống đông và các cán bộ, nhân viên y tế quan tâm.
Tham dự lớp tập huấn có Đại tá, PGS, TS Nguyễn Đức Trung - Chủ nhiệm Khoa Dược và Đại tá, PGS, TS Phạm Trường Sơn - Viện trưởng Viện Tim mạch, đồng quản lý Mạng lưới Quản lý sử dụng thuốc chống đông; Đại tá, BSCKII Lê Hùng Trường - Giám đốc Trung tâm kiêm Chủ nhiệm Khoa Khám bệnh đa khoa; Đại tá, TS, DS Nguyễn Trung Hà - Phó Chủ nhiệm Khoa Dược. Tham gia giảng dạy là các chuyên gia đến từ Khoa Dược, Viện Tim mạch - Bệnh viện TWQĐ 108 và Bộ môn Dược lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội.
Các đại biểu tham dự lớp tập huấn
Thuốc chống đông được xếp vào nhóm thuốc nguy cơ cao theo phân loại của Hiệp hội Huyết khối và Cầm máu Quốc tế (ISTH), với khả năng gây ra những biến cố nghiêm trọng, thậm chí tử vong nếu xảy ra sai sót trong quá trình sử dụng.
Phát biểu tại lớp tập huấn, Đại tá, PGS, TS Nguyễn Đức Trung - Chủ nhiệm Khoa Dược, đồng quản lý Mạng lưới Quản lý sử dụng thuốc chống đông nhấn mạnh: “Lớp tập huấn là cơ hội để bác sĩ, dược sĩ cập nhật kiến thức, thống nhất thực hành và nâng cao năng lực sử dụng thuốc chống đông trên lâm sàng. Đây cũng là nền tảng quan trọng nhằm bảo đảm sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh”.
Chương trình tập huấn được xây dựng theo ba nhóm nội dung chính gồm: Dược lý thuốc chống đông: Cập nhật kiến thức về thuốc chống đông đường tiêm, thuốc chống đông đường uống trực tiếp (DOAC) và thuốc kháng vitamin K (VKA); Liệu pháp chống đông trên lâm sàng: Tập trung vào điều trị và dự phòng huyết khối tĩnh mạch, sử dụng thuốc chống đông trong hội chứng mạch vành cấp, rung nhĩ, bệnh nhân mang van tim nhân tạo và các bệnh lý xương khớp; Quản lý trong một số tình huống: Hướng dẫn xử trí chảy máu, đảo ngược tác dụng thuốc chống đông và quản lý chống đông quanh phẫu thuật, thủ thuật. Các báo cáo được triển khai theo hướng kết hợp giữa lý thuyết, ca lâm sàng thực hành và thảo luận tình huống nhằm tăng cường khả năng ứng dụng vào thực tiễn.
Đại tá, PGS, TS Phạm Trường Sơn - Viện trưởng Viện Tim mạch, đồng quản lý Mạng lưới Quản lý sử dụng thuốc chống đông đặt câu hỏi cho các bác sĩ, dược sĩ tham gia lớp tập huấn
ThS, DS Tống Thanh Huyền – Khoa Dược trình bày báo cáo
ThS, BS Mạc Thanh Tùng - Khoa Nội tim mạch, Viện Tim mạch trình bày báo cáo
Lớp tập huấn “Sử dụng thuốc chống đông trên lâm sàng” sẽ tiếp tục diễn ra đến ngày 30/8, vào 12h00 – 13h30 thứ Năm hằng tuần tại Hội trường 3 - Tòa tháp đôi, Bệnh viện TWQĐ 108. Học viên tham gia đầy đủ khóa học, hoàn thành bài kiểm tra đầu vào và đầu ra sẽ được cấp chứng nhận CME theo quy định.
Thùy Linh, Hải Nam – Bộ phận Truyền thông, Phòng KHQS
Tên đề tài luận án: Nghiên cứu tình trạng giảm khối cơ thẳng đùi và vai trò trong đánh giá mức độ nặng ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn
Chuyên ngành: Gây mê hồi sức
Mã số: 9720102
Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Huyền Trang
Họ và tên Người hướng dẫn:
1. TS. Phạm Đăng Hải
2. PGS.TS. Lê Thị Việt Hoa
Cơ sở đào tạo: Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược lâm sàng 108
Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:
Luận án là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá động học giảm khối cơ thẳng đùi bằng siêu âm ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn theo dõi liên tục trong tuần đầu điều trị. Nghiên cứu xây dựng bộ dữ liệu về sự thay đổi diện tích cắt ngang cơ thẳng đùi (CSA) và làm rõ đặc điểm giảm khối cơ trong giai đoạn cấp của sốc nhiễm khuẩn.
Luận án chứng minh biến đổi diện tích cắt ngang cơ thẳng đùi đo bằng siêu âm có mối liên quan với mức độ nặng của bệnh, thời gian thở máy và tử vong 28 ngày, qua đó khẳng định siêu âm cơ là công cụ không xâm lấn, có khả năng theo dõi động học và hỗ trợ đánh giá tiên lượng ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn.
Luận án đề xuất ngưỡng tỷ lệ giảm diện tích cắt ngang cơ thẳng đùi trong tuần đầu có giá trị tiên lượng tử vong và phân tầng nguy cơ ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, góp phần định hướng theo dõi và cá thể hóa chiến lược điều trị.
Luận án bước đầu xây dựng mô hình tiên lượng kết hợp giữa biến đổi khối cơ với các thang điểm đánh giá mức độ nặng, góp phần nâng cao khả năng phân tầng nguy cơ và dự báo kết cục lâm sàng so với sử dụng riêng lẻ từng chỉ số.
Kết quả nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học cho việc ứng dụng siêu âm cơ trong thực hành hồi sức, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu về các biện pháp can thiệp nhằm bảo tồn khối cơ, cải thiện tiên lượng và chất lượng sống của bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn.
THE NEW MAIN SCIENTIFIC CONTRIBUTION OF THE THESIS
Name of thesis: Study on Rectus Femoris Muscle Loss and Its Role in Assessing Disease Severity in Patients with Septic Shock.
Speciality: Anesthesiology and Critical Care
Code: 9720102
PhD Candidate: Nguyen Thi Huyen Trang
Name of supervisor:
1 PhD. Pham Dang Hai
2 Assoc. Prof. PhD. Le Thi Viet Hoa
Training facility: 108 Institute of Clinical Medical and Pharmaceutical Sciences.
Summary of Novel Scientific Contributions of the Thesis:
This thesis is among the first studies conducted in Vietnam to longitudinally evaluate dynamic changes in rectus femoris muscle mass using bedside ultrasound in patients with septic shock during the first week of intensive care. It establishes a dataset describing changes in rectus femoris cross-sectional area (CSA) and characterizes the pattern of acute muscle loss during the early phase of septic shock.
The thesis demonstrates that ultrasound-assessed changes in rectus femoris CSA are significantly associated with disease severity, duration of mechanical ventilation, and 28-day mortality, confirming that muscle ultrasound is a non-invasive bedside tool for dynamic assessment of skeletal muscle and prognostic evaluation in patients with septic shock.
The thesis proposes a threshold for the percentage reduction in rectus femoris CSA during the first week of septic shock that has prognostic value for 28-day mortality and risk stratification, thereby supporting patient monitoring and individualized treatment strategies.
The thesis preliminarily develops a prognostic model integrating changes in muscle mass with established severity scoring systems, improving risk stratification and prediction of clinical outcomes compared with the use of individual prognostic indicators alone.
The findings provide additional scientific evidence supporting the integration of muscle ultrasound into routine critical care practice and open new avenues for future interventional studies aimed at preserving skeletal muscle mass, improving patient outcomes, and enhancing the quality of life of survivors of septic shock.