Ung thư phổi là một trong những loại ung thư phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao hàng đầu hiện nay. Khoảng 85% trường hợp là ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) và đa số khi chẩn đoán bệnh thường đã ở giai đoạn muộn. Trong đó, đột biến gen EGFR là đột biến thường gặp ở bệnh nhân châu Á, chiếm khoảng 40–50%.
Phần lớn các đột biến EGFR là đột biến nhạy cảm với các thuốc ức chế EGFR tyrosine kinase (TKI) và thường đáp ứng tốt với thuốc điều trị bằng các thuốc đó. Tuy nhiên, một nhóm nhỏ bệnh nhân mang đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20 lại đáp ứng rất hạn chế với các thuốc đó. Tại Việt Nam, đột biến chèn đoạn Exon 20 chiếm khoảng 5% số trường hợp có đột biến EGFR và thường liên quan đến tiên lượng không thuận lợi.
Hiện nay, hóa trị trên nền platin vẫn là lựa chọn điều trị phổ biến cho nhóm bệnh nhân này, nhưng hiệu quả còn hạn chế, với thời gian kiểm soát bệnh trung bình chỉ khoảng 4–7 tháng. Vì vậy, việc tìm kiếm các phương pháp điều trị mới đang là nhu cầu cấp thiết, nhằm mang lại thêm cơ hội cho người bệnh.

Trong những năm gần đây, sự ra đời của Amivantamab đã mở ra thêm cơ hội điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển hoặc di căn mang đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20 – một nhóm bệnh vốn đáp ứng kém với các thuốc điều trị đích trước đây.
Amivantamab là hoạt chất chính trong thuốc Rybrevant, thuộc nhóm kháng thể đơn dòng thế hệ mới. Thuốc được thiết kế để nhận diện đồng thời hai mục tiêu quan trọng trên tế bào ung thư là EGFR và MET, từ đó ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, đồng thời huy động hệ miễn dịch tham gia tiêu diệt các tế bào bất thường. Đây là cơ chế tác động kép giúp Amivantamab trở thành một trong những liệu pháp điều trị đích đầy hứa hẹn cho nhóm bệnh nhân mang đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20.
Tháng 3/2024, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt Amivantamab kết hợp với hóa trị (carboplatin và pemetrexed) trong điều trị bước một cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển hoặc di căn có đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20. Thuốc cũng được chấp thuận sử dụng cho những bệnh nhân có bệnh tiến triển sau điều trị hóa trị trên nền platin.
Kết quả nghiên cứu PAPILLON cho thấy, việc phối hợp Amivantamab với hóa trị giúp kéo dài thời gian kiểm soát bệnh trung bình lên 11,4 tháng, so với 6,7 tháng ở nhóm chỉ điều trị hóa chất đơn thuần. Trong nghiên cứu CHRYSALIS, Amivantamab đơn trị đạt tỷ lệ đáp ứng khối u khoảng 40%, với thời gian sống thêm không bệnh tiến triển trung bình 8,3 tháng và thời gian sống toàn bộ trung bình 22,8 tháng ở những bệnh nhân đã thất bại với điều trị trước đó.
Gần đây, dựa theo kết quả nghiên cứu Mariposa, amivantamab còn thêm hai chỉ định điều trị cho nhóm bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn mang đột biến EGFR thường gặp: kết hợp với lazertinib để điều trị hàng đầu cho bệnh nhân NSCLC tiến triển có đột biến EGFR mất đoạn Exon 19 hoặc đột biến thay thế L858R Exon 21; kết hợp với carboplatin và pemetrexed để điều trị cho bệnh nhân NSCLC tiến triển có đột biến EGFR mất đoạn Exon 19 hoặc đột biến thay thế L858R Exon 21 sau thất bại với điều trị trước đó bao gồm đã những bệnh nhân đã dùng thuốc TKI.
Tuy nhiên, cũng như nhiều thuốc điều trị ung thư khác, Amivantamab có thể gây một số tác dụng phụ như phản ứng trong quá trình truyền thuốc (sốt, ớn lạnh, buồn nôn, chóng mặt, khó thở), phát ban da, viêm quanh móng, đỏ mắt hoặc chảy nước mắt. Trong một số trường hợp hiếm gặp, người bệnh có thể xuất hiện phản ứng dị ứng nghiêm trọng như khó thở, sưng nề mặt hoặc cổ họng và cần được cấp cứu ngay.
Thuốc được sử dụng bằng đường truyền tĩnh mạch tại bệnh viện dưới sự theo dõi của nhân viên y tế. Trước khi truyền, người bệnh thường được dùng thuốc dự phòng nhằm giảm nguy cơ phản ứng dị ứng và các tác dụng không mong muốn liên quan đến truyền thuốc.
Nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như khó thở kéo dài, phát ban nặng, mệt mỏi nhiều hoặc sưng phù bất thường, người bệnh cần thông báo ngay cho bác sĩ để được xử trí kịp thời.
Hiện nay, xét nghiệm tìm đột biến gen đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị ung thư phổi. Kết quả xét nghiệm giúp bác sĩ xác định chính xác đặc điểm sinh học của khối u, từ đó lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu cho từng người bệnh.
Đặc biệt ở những bệnh nhân có đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20, sự xuất hiện của Amivantamab đã mở ra thêm cơ hội kiểm soát bệnh hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống cho người bệnh.
Ung thư phổi không còn được điều trị theo một công thức chung cho tất cả mọi người. Với sự phát triển của y học cá thể hóa và các thuốc điều trị đích thế hệ mới như Amivantamab, ngày càng nhiều bệnh nhân có cơ hội tiếp cận những phương pháp điều trị phù hợp, hiệu quả và an toàn hơn.
Nếu được chẩn đoán ung thư phổi, người bệnh cần được tư vấn về việc thực hiện các xét nghiệm gen cần thiết để có thể lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu nhất.
PGS, TS Nguyễn Đình Tiến, Chủ nhiệm bộ môn Nội hô hấp - Bệnh viện TWQĐ 108, Phó Chủ tịch Hội Phổi Việt Nam
