Nghiên cứu hiệu quả trao đổi khí của phương pháp oxy lưu lượng cao dòng 40 lít/phút và 70 lít/phút khi ngừng thở trong phẫu thuật bệnh lý dây thanh

  06:06 PM 25/02/2026

Tên luận án: Nghiên cứu hiệu quả trao đổi khí của phương pháp oxy lưu lượng cao dòng 40 lít/phút và 70 lít/phút khi ngừng thở trong phẫu thuật bệnh lý dây thanh

Chuyên ngành: Gây mê hồi sức

Mã số: 9720102

Họ và tên nghiên cứu sinh: Ngô Văn Định

Cán bộ hướng dẫn:

1. Hướng dẫn chính: PGS.TS. Nguyễn Minh Lý

2. Hướng dẫn phụ: PGS.TS. Công Quyết Thắng

Cơ sở đào tạo: Viện nghiên cứu khoa học Y Dược lâm sàng 108

 

Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:

Lần đầu tiên tại Việt Nam, nghiên cứu tiến hành so sánh trực tiếp hiệu quả trao đổi khí của oxy lưu lượng cao (High-flow nasal oxygen – HFNO) ở hai mức lưu lượng 40 lít/phút và 70 lít/phút khi ngừng thở hoàn toàn trong gây mê phẫu thuật bệnh lý dây thanh.

Luận án xây dựng quy trình theo dõi khí máu (PaO2, PaCO2 và theo dõi liên tục áp lực CO2 qua da (TcCO2) theo thời gian ngừng thở, cung cấp bằng chứng định lượng về khả năng duy trì oxy hóa và mức độ tăng CO2 của từng mức lưu lượng. Thiết kế nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) với quy trình chuẩn hóa từ gây mê, phẫu thuật, đến theo dõi và kết thúc phẫu thuật, đảm bảo độ tin cậy khoa học.

Luận án đã đưa ra giá trị ngưỡng thời gian an toàn khi ngừng thở (safe apneic time) tương ứng với từng mức lưu lượng dòng oxy trong phẫu thuật nội soi thanh quản điều trị bệnh lý dây thanh, giúp định hướng ứng dụng lâm sàng cụ thể. Kết quả nghiên cứu góp phần xác định vai trò tối ưu của lưu lượng 40 lít/phút và 70 lít/phút trong việc kéo dài thời gian ngừng thở an toàn mà vẫn kiểm soát được tăng CO2 trong giới hạn cho phép. Hai nhóm đảm bảo trao đổi khí an toàn. Nhóm 70 lít/phút có hiệu quả oxy hóa máu và thải trừ CO2 tốt hơn so với nhóm 40 lít/phút. TcCO2 với PaCO2 có tương quan thuận, mức độ mạnh.

Bổ sung cơ sở khoa học cho việc lựa chọn mức lưu lượng dòng oxy phù hợp trong gây mê phẫu thuật vùng thanh quản, đặc biệt ở bệnh nhân cần đảm bảo phẫu trường rộng rãi cho phẫu thuật mà không cần đặt ống nội khí quản.

Góp phần chuẩn hóa quy trình sử dụng oxy lưu lượng cao và theo dõi bệnh nhân khi ngừng thở có kiểm soát, giúp các cơ sở gây mê hồi sức trong nước ứng dụng an toàn và hiệu quả hơn.

Cung cấp dữ liệu thực nghiệm lâm sàng đầu tiên tại Việt Nam về ảnh hưởng của oxy lưu lượng cao đến trao đổi khí trong điều kiện ngừng thông khí, có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo trong các phẫu thuật khi ngừng thở vùng tai mũi họng và lồng ngực.

Đồng thời xác định giới hạn an toàn khi ngừng thở, hỗ trợ bác sĩ gây mê trong việc lựa chọn chiến lược oxy hóa tối ưu.

Góp phần nâng cao tính an toàn và chất lượng gây mê hồi sức trong phẫu thuật nội soi dây thanh, giảm nhu cầu can thiệp đường thở, giảm nguy cơ chấn thương thanh quản và cải thiện kết quả phẫu thuật.

 

THE NEW MAIN SCIENTIFIC CONTRIBUTION OF THE THESIS

 

Name of thesis: Effectiveness of apnoeic oxygenation with high‐ flow nasal oxygen at 40 liters/minute and 70 liters/minute for endoscopic vocal cord surgery

Speciality: Anesthesiology and Critical Care

Code: 9720102

Name of graduate student: Ngo Van Dinh

Name of supervisor:

1. Assoc.Prof. Nguyen Minh Ly, MD, PhD

2. Assoc.Prof. Cong Quyet Thang, MD, PhD

Training facility: 108 Institute of Clinical Medical and Pharmaceutical Sciences.

 

Summary of the new main scientific contribution of the thesis:

This research is the first randomized controlled trial in Vietnam to directly compare two HFNO flow rates (40 L/min and 70 L/min) during complete apnoea in general anesthesia for endoscopic vocal cord surgery. It developed a dynamic model of PaO₂, PaCO₂, and TcCO₂ throughout the apnoeic period, providing quantitative insights into oxygenation and CO₂ clearance at different flow rates.

The study applied a standardized anesthesia and monitoring protocol, ensuring methodological consistency and reliability across groups - an approach rarely achieved in airway surgery research.

It introduced clinically relevant safe apnoeic time thresholds corresponding to each HFNO flow rate, offering practical guidance for anesthesiologists in operative airway management.

The study demonstrated the superior performance of 40 L/min and 70 L/min HFNO, which prolonged the safe apnoea duration without inducing severe hypercapnia, highlighting its potential as the optimal flow rate for laryngeal procedures. Both flows ensured safe gas exchange; however, the 70 L/min flow

achieved higher oxygenation and CO₂ clearance; hemodynamics remained stable in both groups. TcCO₂ and PaCO₂ showed a strong positive correlation. The thesis establishes a scientific foundation for selecting appropriate HFNO flow rates in apnoeic anesthesia for endoscopic vocal cord surgery, contributing new evidence to the growing body of literature on oxygenation strategies.

It standardizes the clinical protocol for controlled apnoeic oxygenation using HFNO, enhancing both safety and reproducibility in anesthetic practice. It provides the first local clinical dataset in Vietnam on gas exchange characteristics during apnoea with HFNO in anesthesia.

The study proposes practical recommendations for defining safe operational limits for carbon dioxide accumulation and oxygenation maintenance. Ultimately, the findings improve patient safety and anesthesia quality, minimize airway manipulation, reduce the risk of laryngeal trauma, and support better surgical outcomes in endoscopic vocal cord surgery.

Chia sẻ