Kỹ thuật chuyên sâu

Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế. Đột quỵ thiếu máu hay nhồi máu não (NMN) não chiếm tỷ lệ chủ yếu khoảng 80 - 85% các bệnh nhân đột quỵ não. Thiếu máu não kéo dài sẽ dẫn đến nhồi máu não thực sự nếu không được tái thông kịp thời và sẽ để lại các di chứng nặng nề. Vì vậy, mục tiêu điều trị trong đột quỵ thiếu máu não cấp là phải khôi phục dòng máu đến vùng đang thiếu máu càng sớm càng tốt. Tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch dùng chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp (rtPA) được xem là điều trị chuẩn mực đối với bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não nhập viện sớm trong cửa sổ 4,5 giờ đầu tính từ lúc khởi phát triệu chứng. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 3-10% bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não giai đoạn cấp được điều trị tiêu sợi huyết tĩnh mạch do nằm ngoài cửa sổ điều trị hoặc do chống chỉ định. Thêm vào đó, tiêu sợi huyết tĩnh mạch có tỷ lệ tái thông mạch máu não không cao, đặc biệt đối với trường hợp tắc mạch máu lớn và thường bị tái tắc mạch máu sau điều trị. Lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học có thể tái thông được các mạch máu lớn, cửa sổ điều trị lên 8 giờ đối với tuần hoàn bên và có thể tới 12 giờ đối với hệ tuần hoàn sau. Vì vậy, lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học là một phương pháp bổ sung rất tốt cho những hạn chề của tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch. Có nhiều dụng cụ cơ học lấy huyết khối nhưng sử dụng stent Solitaire và hệ thống hút huyết khối penumbra là những dụng cụ có hiệu quả hơn cả. Bệnh viện TƯQĐ tiến hành lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học lần đầu tiên tháng 1 năm 2014, cho đến nay kỹ thuật này đã được áp dụng thường quy cho các bệnh nhân đến viện sớm có chỉ định và đã điều trị thành công nhiều bệnh nhân đột quỵ nhồi máu nặng nặng.

Các chỉ định lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học:
- Chẩn đoán xác định là nhồi máu não cấp tính bằng cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ, có điểm NIHSS ≥ 8 điểm.
- Chống chỉ định hoặc thất bại với tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch
- Thời gian từ lúc khởi phát các triệu chứng nhồi máu não đến lúc kết thúc điều trị lấy huyết khối trong vòng 8 tiếng.
- Bệnh nhân có tắc động mạch có thể điều trị được: Động mạch cảnh trong; động mạch não giữa đoạn M1, M2; động mạch thân nền (chụp CTA/MRI/DSA xác định).
- Gia đình bệnh nhân đồng ý điều trị lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học.

Chống chỉ đinh: nếu có một trong các tiêu chuẩn sau:
- Bệnh nhân đến muộn quá 8 giờ
- Có bằng chứng chảy máu trên hình ảnh CLVT và/hoặc CHT sọ não.
- Chụp CLVT mạch máu (CT Angiography) hoặc CHT mạch máu (TOF 3D) hoặc chụp mạch DSA không thấy hình ảnh tắc động mạch lớn (cảnh trong, não giữa, đốt sống-thân nền).
- Hình ảnh chụp CLVT và/ hoặc CHT sọ não có nhồi máu não diện rộng (trên 1/3 diện chi phối của động mạch não giữa).
- Động mạch uốn khúc không tiếp cận được vị trí bị tắc.
- Điểm NIHSS ≥ 30.
- Tiền sử chấn thương đầu mức độ nặng, nhồi máu cơ tim hoặc phẫu thuật sọ não trong 3 tháng gần đây.
- Dị ứng với thuốc cản quang, suy thận nặng.
- Nguy cơ chảy máu cao:
+ Số lượng tiểu cầu < 100.000/ mm3
+ Huyết áp không kiểm soát được (HATT trên 185 mmHg hoặc HATTr trên 110 mmHg).
+ Điều trị thuốc chống đông gần đây với tỷ lệ INR ≥ 3,0.
+ Sử dụng heparin trong vòng 48 giờ và thời gian thromboplastin từng phần (PTT) >2 lần bình thường.

Hình 1. Hình ảnh tắc cuối động mạch cảnh trong trái trước và sau điều trị lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học

(Nguồn Youtube)


(Nguồn youtube)