Y Học Sức Khỏe

Kỹ thuật xét nghiệm đo độ đàn hồi cục máu bằng máy ROTEM là một kỹ thuật mới được triển khai tại Việt Nam với nhiều ưu điểm: xét nghiệm tiến hành tại chỗ, sử dụng máu toàn phần, linh hoạt nên tiếp cận bệnh nhân “nhanh nhất – gần nhất”; thời gian xét nghiệm và cho kết quả nhanh, song song với quá trình phẫu thuật, cấp cứu; phản ánh được tổng quát quá trình đông cầm máu với nhiều thông số xét nghiệm giúp linh hoạt phân tích chi tiết hơn các bất thường đông cầm máu…
Rối loạn đông máu là một vấn đề thường gặp ở bệnh nhân hồi sức cấp cứu nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời sẽ nguy hiểm tính mạng đặc biệt là những trường hợp chảy máu nặng. Trong những năm gần đây, những hiểu biết sâu hơn về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của các rối loạn đông máu đặc biệt là sự ra đời của xét nghiệm đo độ đàn hồi cục máu (ROTEM - Rotation ThromboElastoMetry) đã giúp ích rất nhiều cho việc chẩn đoán và xác định chiến lược điều trị tối ưu. 
Thực tế lâm sàng vẫn đang sử dụng các xét nghiệm đông máu thường quy như đếm số lượng tiểu cầu, thời gian Prothrombin (PT), thời gian aPTT, định lượng Fibrinogen… – là những xét nghiệm vẫn sử dụng mẫu huyết tương nên cần có thời gian chuẩn bị mẫu (lý tâm tách huyết thương) khiến thời gian xét nghiệm kéo dài từ 30 – 60 phút. Các xét nghiệm này chỉ đánh giá độc lập các yếu tố, không phản ánh đầy đủ quá trình đông máu trong cơ thể do vậy không tiên lượng được việc chỉ định truyền các chế phẩm máu. Về bản chất, xét nghiệm này chỉ đánh giá quá trình đông máu từ khi hoạt hóa đến khi bắt đầu hình thành cục đông. Do vậy khó tiên lượng được những trường hợp đặc biệt như tiêu sợi huyết quá mức, hội chứng đông máu rải rác lòng mạch…Để phát hiện những trường hợp này, thường phải làm những xét nghiệm chuyên sâu hơn gây tốn kém, mất thời gian, thậm chí không hiệu quả. Điều đó làm mất đi tính kịp thời trong chẩn đoán và can thiệp khi có chảy máu nặng.
ROTEM – Là xét nghiệm đo độ đàn hồi cục máu giúp chúng ta đánh giá được động học của quá trình đông máu thông qua các thông số nhằm chỉ ra tốc độ và chất lượng của sự hình thành cục máu đông. Xét nghiệm này sử dụng mẫu máu toàn phần (không mất thời gian chuẩn bị mẫu), thời gian cho kết quả nhanh (15 – 30 phút) đánh giá được quá trình đông máu từ khi bắt đầu đến khi tiêu sợi huyết, độ vững chắc cũng như sự ổn định của cục máu đông, do đó đem lại những đánh giá nhạy hơn về những biến đổi trong đông máu. Điều này cho phép chẩn đoán được toàn bộ những bệnh lý đông máu, định hướng sử dụng các chế phẩm máu cũng như đánh giá nhanh được hiệu quả của các can thiệp vào quá trình đông máu. Do đó tiết kiệm được các chế phẩm máu cũng như chi phí điều trị.
Xét nghiệm ROTEM được thực hiện ngay tại giường, bác sĩ có thể quan sát biểu đồ ngay trên máy để đánh giá nhanh thời gian hoạt hóa đông máu dài hay ngắn, biên độ cục máu đông sau 5 phút, 10 phút và khi cực đại…Qua đó nhanh chóng xác định loại rối loạn đông máu (tăng đông hay giảm đông, nội sinh hay ngoại sinh), các yếu tố nhiễu như dùng Heparin (do kỹ thuật lấy mẫu, điều trị chống đông,..) để đưa ra biện pháp can thiệp kịp thời (sử dụng chế phẩm gì, liều lượng…).

Hình 1: Các thông số cơ bản trong xét nghiệm ROTEM
ROTEM: 05 loại xét nghiệm sàng lọc 
Xét nghiệm Ý NGHĨA
INTEM Đánh giá con đường đông máu nội sinh 
HEPTEM Đánh giá con đường đông máu nội sinh có loại trừ ảnh hưởng của heparin (nhiễm Heparin, sử dụng Heparin trong điều trị..)
EXTEM Đánh giá con đường đông máu ngoại sinh.
FIBTEM Đánh giá con đường đông máu ngoại sinh và sự thiếu hụt fibrinogen, bất thường quá trình polymer hóa fibrin mà không bị ảnh hưởng bởi tiểu cầu.
APTEM Đánh giá tình trạng tiêu sợi huyết giúp theo dõi điều trị tiêu sợi huyết.

Ứng dụng kỹ thuật ROTEM trong kiểm soát đông máu của bệnh nhân giúp tăng hiệu quả điều trị; giảm truyền máu và các chế phẩm; cải thiện kết quả và tiết kiệm chi phí trong các lĩnh vực như ghép tạng, hồi sức, phẫu thuật tim mạch, chấn thương, sản khoa. v.v…… 
Tại Bệnh viện TWQĐ 108, xét nghiệm ROTEM giúp các bác sĩ hồi sức cấp cứu sẽ có cách tiếp cận nhanh, chính xác với các rối loạn đông máu, sử dụng đúng các chế phẩm máu, ra chỉ định xét nghiệm chuyên sâu phù hợp, nâng cao hiệu quả của quá trình điều trị.
Bài: ThS. BS Nguyễn Hồng Tốt
Biên tập: An Ngọc