Kỹ thuật chuyên sâu

U phì đại lành tính tuyến tiền liệt (hay u xơ tiền liệt tuyến) là sự phì đại lành tính của tuyến tiền liệt, bệnh phát sinh do sự tăng sản tế bào thành phần cầu trúc của tiền liệt tuyến, gây ra các triệu chứng rối loạn về tiểu tiện, việc phát hiện và điều trị sớm sẽ tránh được những biến chứng. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy, có trên 50% nam giới ở độ tuổi từ 60 - 70 tuổi bị u xơ tiền liệt tuyến, tỷ lệ này lên đến 88% ở những người 80 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh và mức độ trầm trọng của bệnh thường gia tăng theo độ tuổi.

U xơ tiền liệt tuyến (TLT) có thể phát triển từ từ trong một thời gian dài mà không gây nên bất kỳ sự nguy hiểm nào. Tuy nhiên, vì tuyến bao quanh niệu đạo nên nếu bị phì đại tuyến tiền liệt sẽ gây cản trở dòng nước tiểu từ bàng quang ra niệu đạo, làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn về tiểu tiện. Nếu nặng có thể gây bí tiểu mạn tính dẫn đến viêm bàng quang, viêm đường tiết niệu, thậm chí suy thận. Người bệnh cần đi khám khi xuất hiện triệu chứng rối loạn tiểu tiện hoặc bí tiểu cấp tính.

1. Giải phẫu học tiền liệt tuyến

Khối lượng tuyến tiền liệt từ 15-25gram ở người trưởng thành bình thường, kích thước TLT: Chiều rộng là 4cm, chiều dài 3cm, đường kính trước sau khoảng 2cm.

Tuyến tiền liệt có 3 mặt liên quan: mặt trước, mặt sau và mặt bên, với đỉnhnằm ở dưới và đáy tuyến nằm ở trên liên tục với cổ bàng quang. Tiền liệt tuyến là tuyến lớn có dạng hình nón được bao bọc bằng vỏ fibrin, có đáy tựa vào đáy bàng quang, vùng cổ bàng quang và đỉnh ở dưới dính vào cân sinh dục tiết niệu.

Mặt trước tiền liệt tuyến có cân trước tiền liệt tuyến chủ yếu chứa mỡ và đám rối tĩnh mạch, khoang Retzius nằm giữa tiền liệt tuyến bàng quang và xương mu.

Hai mặt bên có tổ chức liên kết bao bọc và có các cân bên của tiền liệt tuyến. Chúng tiếp nối với đám rối tĩnh mạch quanh tiền liệt tuyến, và tách tiền liệt tuyến với cơ nâng hậu môn và xa hơn là các cơ bịt trong.

2. Chẩn đoán xác định u phì đại tính tuyến tiền liệt: dựa vào:
- Triệu chứng lâm sàng rối loạn tiểu tiện.
- Thăm khám trực tràng u tuyến tiền liệt to ranh giới rõ bề mặt nhẵn mật độ chắc, ấn vào bệnh nhân đau tức.
- Siêu âm: tăng thể tích tuyến tiền liệt.

3. Siêu âm trong chẩn đoán bệnh lý tiền liệt tuyến
3.1. Vai trò của siêu âm
Đánh giá thể tích tuyến tiền liệt có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi u phì đại tuyến tiền liệt. Siêu âm là một phương pháp được áp dụng rất rộng rãi với ưu điểm không gây sang chấn (non-invasive examination), thực hiện nhanh, chính xác, hiệu quả cao. Giá trị của siêu âm trong tăng sản lành tính tuyến tiền liệt:
- Đánh giá về thể tích tuyến tiền liệt, để có định hướng trong việc lựa chọn phương pháp điều trị.
- Đánh giá tình trạng nhu mô để chuẩn đoán phân biệt với ung thư hoặc ápxe TLT.
- Đánh giá một số biến chứng do tăng sản lành tính tuyến tiền liệt gây ra ở bàng quang và đường dẫn niệu trên như sỏi, giãn đài bể thận.
- Đánh giá giai đoạn và kết quả phẫu thuật thông qua đo nước tiểu tồn dư.
- Đánh giá các bệnh kết hợp khác của đường niệu như sỏi thận.

Có nhiều phương pháp siêu âm tăng sản lành tính tuyến tiền liệt
- Siêu âm phía trên xương mu.
- Siêu âm qua đường trực tràng.
- Siêu âm qua đường tầng sinh môn, ít có kết quả và cũng ít được ứng dụng.
- Siêu âm bằng cách đưa đầu dò qua niệu đạo, cũng ít được làm do có nguy cơ gây rập vỡ niệu đạo và nhiễm khuẩn.
- Siêu âm mầu Doppler: khi cần có thể kết hợp cùng với các biện pháp siêu âm kinh điển.

a) Xác định khối lượng TTL:
Siêu âm giúp cho chúng ta biết các thông tin về khối lượng, hình dạng phát triển và mật độ của tiền liệt tuyến. Người ta qui ước 1cm3 thể tích bằng 1gram tuyến.

b) Xác định lượng nước tiểu tồn dư: theo đơn vị thể tích ml.
3.2. Siêu âm qua trực tràng đánh giá tiền liệt tuyến

Siêu âm qua trực tràng (Transrectal ultrasound - TRUS) là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh được áp dụng rộng rãi trong đánh giá tuyến tiền liệt. TRUS có nhiều ưu điểm so với các phương pháp khác như: chi phí thấp, tính khả dụng cao và đem tới hình ảnh trực quan theo thời gian thực. Tuy nhiên việc phát hiện và đánh giá bệnh lý tuyến tiền liệt trên phương tiện hình ảnh hiện nay vẫn còn là một thách thức.

Bằng phương pháp siêu âm qua trực tràng, tiền liệt tuyến có hình ảnh rõ ràng nhất, trên các lớp cắt ngang nó có hình bán nguyệt và cân đối, ranh giới phía sau có thể hơi lõm nhất là khi bơm nước quá căng, tiền liệt tuyến ở trung tâm ít âm hơn và hơi lồi ra trước. Phía ngoài tiền liệt tuyến sẽ thấy các cơ nâng hậu môn và xa hơn là các cơ bịt trong.

Theo Mac Neal có 5 vùng tiền liệt tuyến và có thể phân biệt trên siêu âm. Trên thực tế vùng chuyển tiếp ở người bình thường khó phát hiện trên siêu âm, vùng trung tâm và ngoại biên khó phân biệt với nhau trừ một số trường hợp vùng trung tâm hơi ít âm thì phân biệt được và nhất là ở những người gầy. Đặc biệt ở những người có u xơ tiền liệt tuyến thì phân biệt được các vùng dễ dàng hơn nhất là vùng chuyển tiếp và vùng ngoại biên cách nhau bởi đường viền giảm âm.

Cấu trúc âm của tiền liệt tuyến thường đồng đều, ở những người gầy đôi khi có thể phân biệt được tiền liệt tuyến ngoại biên và trung tâm. Trên các lớp cắt ngang hơi thấp thấy vùng giảm âm ở giữa đôi khi ra trước, tương ứng với vùng xơ cơ ở phía trước và vùng tuyến quanh niệu đạo (theo Mac Neal), tiền liệt tuyến bao quanh và nằm ở phía sau vùng này và thường tăng âm hơn, âm đều, mịn và cân đối hai bên. Vùng chuyển tiếp thường không thấy ở người trẻ.

4. Kỹ thuật siêu âm đánh giá tiền liệt tuyến qua trực tràng
Kỹ thuật sử dụng đầu dò qua trực tràng, tần số 6 - 16Mhz (máy GE Logiq S8), thực hiện siêu âm B-Mode trên các mặt cắt ngang và dọc qua tiền liệt tuyến.
Các bước thực hiện thủ thuật siêu âm qua trực tràng:
- Tẩy sạch trực tràng bệnh nhân trước khi thực hiện kỹ thuật. Sử dụng thuốc Fortran pha với 2 lít nước, uống trong vòng 2 giờ đồng hồ.
- Trao đổi với bệnh nhân về lý do và những vấn đề có thể gặp phải khi thực hiện kỹ thuật.
- Tư thế bệnh nhân: nằm nghiêng quay lưng về phía bác sĩ, co chân, 2 đầu gối áp sát ngực.
- Khám và đánh giá sơ bộ vùng hậu môn và phần mềm xung quanh, phát hiện những yếu tố có thể gây trở ngại khi thực hiện kỹ thuật như trĩ, rò hậu môn, viêm áp xe vùng hậu môn, các bệnh lý về da liễu…
- Bọc phần đầu của đầu dò bằng bao cao su và bôi một lớp gel giúp dẫn truyền âm bên ngoài.
- Đưa đầu dò từ từ qua hậu môn với lực nhẹ. Khi tới cơ vòng hậu môn, có thể gặp lực cản nhẹ, nhưng không nên sử dụng lực ấn quá mạnh, có thể gây sang chấn hoặc đưa đầu dò vào sai vị trí ở vùng cơ đáy chậu.
- Tuyến tiền liệt sẽ thấy được ngay sau khi đưa đầu dò qua cơ vòng hậu môn, không nên đưa đầu dò vào quá sâu trong trực tràng.
- Sau khi qua cơ vòng hậu môn và có được hình ảnh của tiền liệt tuyến, ta lựa đầu dò với lực nhẹ để có được hình ảnh rõ nét và tốt nhất của tiền liệt tuyến.

Khi tiến hành đo đạc thể tích tiền liệt tuyến, chúng tôi sử dụng phương pháp đo thể tích hình elip:
          Thể tích TLT (ml) = ( chiều cao x chiều rộng x đường kính trước sau ) x π/6.
          1 ml thể tích tuyến tương đương 1 gram.
          Thể tích tuyến tiền liệt bình thường ở người trưởng thành là từ 15-25gram.

5. Kết luận

U phì đại tuyến tiền liệt là bệnh lành tính, tiến triển chậm, rất hiếm khi gây tử vong. Bệnh có tỷ lệ mắc tăng dần theo lứa tuổi, nam giới từ 40 tuổi đã có thể xuất hiện tăng sản lành tính TTL. Bệnh có xu hướng ngày một gia tăng. Hiện nay, siêu âm là phương pháp hình ảnh đầu tay trong chẩn đoán bệnh, cùng với đó siêu âm còn có vai trò quan trọng trong hướng dẫn chọc hút, sinh thiết đánh giá tiền liệt tuyến với độ chính xác cao.

BS. Nguyễn Mạnh Hùng
Khoa Chẩn đoán chức năng – Bệnh viện TƯQĐ 108