Kỹ thuật chuyên sâu

1. Giới thiệu chung:
Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) là nhân nhày đĩa đệm thoát khỏi vị trí bình thường do đứt rách vòng sợi. Hướng của thoát vị đĩa đệm có thể lệch ra sau, lệch bên, vào lỗ ghép gây chèn ép rễ, dây thần kinh vùng cột sống thắt lưng. Thoát vị đĩa đệm cũng có thể ra trước hoặc vào thân đốt, vì vậy bệnh nhân chỉ có hội chứng đau cột sống thắt lưng mạn tính.
Trên cơ sở đĩa đệm cột sống thoái hóa sinh học hay bệnh lý, khi bị chấn thương từ từ hoặc đột ngột gây thoát vị đĩa đệm. Hoặc trên đĩa đệm bình thường nhưng do chấn thương một cách đột ngột đủ mạnh gây thoát vị đĩa đệm.
Lâm sàng thoát vị đĩa đệm biểu hiện ở hội chứng cột sống và hội chứng rễ thần kinh.
+ Hội chứng cột sống: Lệch vẹo cột sống, co cứng cơ cạnh sống, tầm vận động cột sống giảm, có điểm đau cột sống, chỉ số Schober giảm dưới 13/10, khoảng cánh ngón tay – mặt đất tăng.
+ Hội chứng rễ thần kinh: có điểm đau cạnh sống, dấu hiệu “bấm chuông “ dương tính, điểm đau Valeix dương tính, nghiệm pháp Lasague dương tính. Rối loạn vận động, cảm giác theo chi phối của rễ thần kinh bị tổn thương.

2. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh:
2.1. X-quang thường quy:
Đối với X-quang cột sống chụp trên hai tử thế thẳng và nghiêng thấy được tam chứng Barr:
+ Lệch vẹo cột sống trên phim thẳng.
+ Giảm chiều cao gian đốt sống.
+ Giảm ưỡn cột sống ở phim nghiêng.
Vì đĩa đệm là tổ chức không cản quang nên không thấy được hình ảnh trực tiếp, chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua sự thay đổi của khe gian đốt sống, các đốt sống kế cận và đường cong cột sống.




2.2. Chụp bao rễ thần kinh:
Dùng thuốc cản quang bơm vào khoang dưới nhện của tủy sống, chụp phim hai tư thế thẳng – nghiêng và chếch ¾ phải, trái.
Trên phim thẳng thấy hình ảnh cắt cụt rễ thần kinh, ấn lõm cột thuốc cản quang, (có thể có hình đồng hồ cát), gián đoạn cột thuốc hoặc cắt cụt hoàn toàn cột thuốc cản quang.
Đây là phương pháp cho hình ảnh gián tiếp của thoát vị đĩa đệm bằng hình ảnh hẹp ống sống, lỗ tiếp hợp song không cho được hình ảnh trực tiếp của đĩa đệm nên không phân biệt được chèn ép do các nguyên nhân khác. Hiện nay với sự ra đời của chụp cộng hưởng từ khiến cho chụp bao rễ thần kinh ít được áp dụng.

2.3. Chụp cắt lớp vi tính:
Có giá trị trong các trường hợp thoát vị đĩa đệm có thoái hóa xương như vôi hóa dây chằng dọc sau, dày dây chằng vàng và mỏ xương. Tuy nhiên cắt lớp vi tính lại hạn chế trong đánh giá cấu trúc đĩa đệm, mức độ thoát vị.

2.4. Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Trên ảnh cộng hưởng từ tổ chức có nhiều nước bị giảm tín hiệu trên ảnh T1 và tăng tín hiệu trên ảnh T2. Đĩa đệm bình thường có ranh giới rõ, giảm tín hiệu trên T1 và tăng tín hiệu trên T2 do có nhiều nước. Các đĩa đệm thoái hóa do không có nước nên trên T2 tín hiệu không tăng so với các đĩa đệm khác. Khối đĩa đệm thoát vị là phần đồng tín hiệu với đĩa đệm và nhô ra phía sau so với bờ sau thân đốt sống thấy rõ trên ảnh T1W và T2W. Thoát vị ra sau hay gặp nhất, dựa trên các ảnh cắt dọc hay cắt ngang để đánh giá các thể thoát vị. Xác định chính xác được vị trí của phần đĩa đệm thoát vị so với ống tủy và các mức độ chèn ép tủy và rễ thần kinh.

Chụp cộng hưởng từ được coi là xét nghiệm có giá trị “tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán thoát vị đĩa đệm, cho phép loại trừ các tổn thương bên trong tủy sống. Cộng hưởng từ cho hình ảnh ống tủy, hình ảnh đĩa đệm với độ phân giải cao, quan sát được theo nhiều hướng khác nhau, là một phương pháp an toàn, không độc hại cho người bệnh.

Tất cả các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trên đều được thực hiện tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đặc biệt bệnh viện được trang bị hệ thống máy chụp cộng hưởng từ hiện đại bậc nhất giúp chẩn đoán hiệu quả thoát vị đĩa đệm, đem lại cho bệnh nhân sự hài lòng và tin tưởng.

Nguồn:
Lê Trọng Sanh (2009). Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Đề tài tốt nghiệp Tiến sỹ y học. Trường ĐH Y Hà Nội.
Nguyễn Minh Hiện. Bệnh học nội thần kinh. Học viện quân Y.

Khoa Chẩn đoán Hình ảnh – Bệnh viện TƯQĐ 108