Kỹ thuật chuyên sâu

Thoát vị hoành là bệnh lý tổn thương của cơ hoành qua đó các tạng trong ổ bụng di chuyển lên khoang lồng ngực qua các lỗ của cơ hoành. Thoát vị hoành có thể là bệnh lý bẩm sinh hoặc mắc phải. Bệnh lý bẩm sinh thường được phát hiện trong thời kỳ bào thai hoặc lúc trẻ nhỏ. Thoát vị mắc phải thường được phát hiện ở lứa tuổi lớn hơn.
Dựa vào vị trí lỗ thoát vị thì thoát vị hoành có thể xảy ra qua lỗ thực quản, lỗ Morgagni hay lỗ Bochdalek.
Khi chẩn đoán thoát vị hoành cần phải xem xét kỹ lưỡng về dấu hiệu lâm sàng, kết hợp với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như X-quang, siêu âm, cắt lớp vi tính. Cộng hưởng từ ít sử dụng trong bệnh lý thoát vị hoành.
Siêu âm thường được áp dụng hiệu quả ở giai đoạn bào thai và trẻ nhỏ để đánh giá thoát vị hoành bẩm sinh. Đây là phương pháp đơn giản và hữu ích trong thực hành lâm sàng.

Hình ảnh siêu âm thoát vị gan qua lỗ Morgagni được khẳng định trên cắt lớp vi tính

X-quang sử dụng chụp bụng không chuẩn bị, chụp có uống thuốc cản quang và chụp tư thế đầu thấp cũng cho đánh giá khá tốt thoát vị hoành. Cần chú ý thêm vị trí sonde dạ dày xem có quặt ngược lên lồng ngực không.

Thoát vị trượt dạ dày qua lỗ thực quản Sonde dạ dày quặt ngược lên lồng ngực
Chụp cắt lớp vi tính và chụp cắt lớp có tiêm kết hợp uống thuốc cản quang hiện nay được áp dụng khá phổ biến trong chẩn đoán thoát vị hoành. Đặc biệt thoát vị hoành ở người lớn. Qua hình ảnh thu được từ các lát cắt sẽ cho đánh giá chi tiết về thoát vị như vị trí thoát vị, tạng thoát vị, loại thoát vị,… góp phần tích cực trong định hướng phương pháp xử trí sau này cho bệnh nhân.

Hình ảnh thoát vị đại tràng góc lách qua lỗ Bochdalek trên CLVT ở các mặt cắt ngang (axial), đứng ngang (coronal) và đứng dọc (sagital)
Do vậy, khi đánh giá trên ảnh cắt lớp vi tính cần phải:
– Xem xét kỹ sự liên tục cơ hoành.
– Tìm dạ dày hay các tạng nghi ngờ thoát vị còn có trong ổ bụng ở vị trí bình thường không.
– Tái tạo đa mặt phẳng để đánh giá.
– Phải phân biệt thoát vị hoành với các tổn thương:
• Dị dạng tuyến nang bẩm sinh (congenital cystic adenomatoid malformation – CCAM)
• Áp xe phổi
• Khí phế thũng, kén khí
• Phổi biệt lập (pulmonary sequestration)
• Túi thừa thực quản đoạn thấp
• Nhẽo cơ hoành (attenuated eventrated leaf of diaphragm)
Như vậy, trong thực hành lâm sàng thì chẩn đoán hình ảnh là phương pháp góp phần khẳng định xem có thoát vị hoành hay không cũng như phân loại thể thoát vị, từ đó đưa ra phương hướng điều trị thích hợp nhất cho người bệnh. Trong đó, cắt lớp vi tính là một công cụ hữu ích để đánh giá, phân loại thoát vị hoành.

PGS.TS. Đỗ Đức Cường – BS. Lê Duy Dũng
Khoa Chẩn đoán Hình ảnh – Bệnh viện TƯQĐ 108