Kỹ thuật chuyên sâu

Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (CT) trong y học là kỹ thuật được sử dụng rộng rãi và là công cụ đắc lực giúp hỗ trợ chẩn đoán nhiều bệnh lý (H.1).

Hình 1: Từ trái qua phải: máy CT thông thường và máy CT-sim

Chụp CT cũng được sử dụng vào trong mô phỏng xạ trị (còn gọi là CT-simulator hay CT-sim): sử dụng hình ảnh CT để tính toán mô phỏng phân bố liều bức xạ trên khối u và các tổ chức lành lân cận theo năng lượng chùm tia, hướng chiếu, cách thức chiếu... để điều chỉnh các thông số này tối ưu nhất theo mong muốn (H.2).

Hình 2: Tính toán mô phỏng các trường chiếu và phân bố liều trên hình ảnh 3D-CT

Hình 3: Ảnh quả cầu tái hiện sau khi chụp CT xoắn ốc lúc nó đứng yên (ảnh trái), và hình ảnh bị bóp méo khi quả cầu dao động như 1 khối u trong lồng ngực (ảnh phải)[1].
Hình 3 cho thấy việc sử dụng hình ảnh CT thông thường trong xác định khối u di động khi mô phỏng điều trị xạ trị sẽ thiếu chính xác.

Kỹ thuật chụp 4D-CT mô phỏng trong xạ trị là kỹ thuật chụp CT-sim có tính thêm yếu tố thời gian nhằm khảo sát quá trình di động tuần hoàn của các cơ quan theo nhịp thở của người bệnh. Thực chất, dữ liệu 4DCT là tập hợp rất nhiều các chuỗi ảnh CT khác nhau, phản ánh được pha, biên độ, quỹ đạo di động của các tổ chức, cơ quan (H.4).

Hình 4. Khối u phổi thể hiện trên 1 bình diện của 4D CT

Kỹ thuật 4D-CT mô phỏng xạ trị được khuyến cáo nên áp dụng cho các khối u di động theo nhịp thở như u phổi, u gan, u thực quản (H.5). Kỹ thuật này giúp xác định và điều trị khối u chính xác, giảm tác dụng phụ cho cơ quan lành, đặc biệt là gan và phổi. Tuy nhiên, để sử dụng được 4D-CT mô phỏng xạ trị thì hệ thống máy xạ trị cũng cần có khả năng lập kế hoạch và điều trị 4D.

Hình 5: Minh họa các khối u phổi, gan, thực quản được khuyến cáo chỉ định 4D CT mô phỏng xạ trị, xạ phẫu

Các sản phẩm của chuỗi dữ liệu 4DCT thường được xử lý, tách ra các chuỗi ảnh theo nhiều phariêng rẽ:hoặc chuỗi ảnh MIP (Maximum Intensity Projection): nhìn rõ toàn bộ vết di động của khối u;hoặc chuỗi ảnh MinIP (hoặc mIP – mininum Intensity Projection): nhìn thấy phần khối u xuất hiện nhiều nhất trong các chuỗi ảnh;hoặc chuỗi ảnh trung bình AIP (hoặc Average): có độ mờ thay đổi, thể hiện như (H.5) và (H.6). Thông thường khối u sẽ được vẽ trên chuỗi ảnh MIP và lập kế hoạch xạ trị trên chuỗi ảnh trung bình


Hình 6: Minh họa sự khác nhau về kết quả tái tạo ảnh [2]

Hình 7: Các hình ảnh AIP, MIP của 4D cardiac torso phantom [3]
Khoa Xạ trị - Xạ phẫu, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 được trang bị đồng bộ bao gồmmáy CT Optima 580RT (GE)mô phỏng chuyên dụng có khả năng chụp 4D-CT mô phỏng xạ trị và hệ thống máy xạ trị-xạ phẫu TrueBeam STx (Varian) có khả năng lập kế hoạch và điều trị bệnh nhân theo kỹ thuật 4D dựa trên hình ảnh 4D-CT. Điều này cho phép xạ trịmột cách chính xác, nâng cao chất lượng điều trị, giảm tác dụng phụ cho bệnh nhân.

Hình 8: Máy CT Optima 580RT (GE)mô phỏng chuyên dụng có khả năng chụp 4D CT mô phỏng tại Khoa Xạ trị - Xạ phẫu, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Hiện tại, Khoa Xạ trị - Xạ phẫu, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã triển khai kỹ thuật chụp 4D CT mô phỏng và xạ trị 4D cho bệnh nhân ung thư phổi, ung thư gan. Bệnh nhân có nhu cầu tư vấn điều trị xin liên hệ với Khoa Xạ trị - Xạ phẫu, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tại địa chỉ: Số 1, Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: 0246-278-4163.
Email: xatri108@gmail.com.

KS Đỗ Đức Chí, Khoa Xạ trị - Xạ phẫu, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Tài liệu tham khảo
1. Paul J. Keall et al., The management of Respiratory Motion in Radiation Oncology, Report of Task Group 76, AAPM, 2006.
2. Byong Yong Yi, Practical Considerations in Preparing an Institutional Procedure of Image Guided Radiation Therapy, Prog Med Phys, Dec. 2013.
3. Jing Cai, Target-Matching Accuracy in Stereotactic Body Radiation Therapy of Lung Cancer: An Investigation Based on Four-Dimensional Digital Human Phantom, Cancer Transl Med 2016;2(3):65–71.