Kỹ thuật chuyên sâu

Xét nghiệm Chlamydia trachomatis IgG công nghệ miễn dịch hóa phát quang (CLIA) bán định lượng kháng thể IgG đặc hiệu của Chlamydia trachomatis trong mẫu huyết thanh hoặc huyết tương được thực hiện trên hệ thống máy phân tích Miễn dịch tự động hóa phát quang Liaison tại Khoa Vi sinh vật – Bệnh viện TƯQĐ 108.
Chlamydiaceae là vi khuẩn Gram âm bao gồm C. trachomatis, C. pneumoniaeC. psittaci, tất cả các tác nhân gây bệnh nội bào. Trong các loài C. trachomatis, có 3 biến thể sinh học người: Tác nhân gây bệnh đau mắt hột, tác nhân gây bệnh viêm hạch bạch huyết sinh dục (LGV) và tác nhân gây bệnh lây nhiễm qua đường tình dục như viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm vòi trứng và viêm niệu đạo.
C. trachomatis là loài vi khuẩn gây bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (STD) phổ biến nhất ở châu Âu và ở Hoa Kỳ. Tại thời điểm hiện tại, khoảng 4 triệu ca lây nhiễm Chlamydia xảy ra mỗi năm ở Hoa Kỳ. Trên thế giới, ước tính có hơn 50 triệu ca lây nhiễm Chlamydia trachomatis mới mỗi năm.
Mặc dù tác động chính của Chlamydia trachomatis là trên đường sinh dục nữ, nhưng nó cũng là nguyên nhân nhiễm trùng ở nam giới và trẻ em. Tỷ lệ nhiễm Chlamydia trachomatis ở phụ nữ trưởng thành, đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao nhất, vượt quá 10% và trong một vài phòng khám bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục và người trưởng thành, tỷ lệ này có thể lên tới 40%. Ở nam giới khoảng 4 đến 10% nhiễm Chlamydia trachomatis mà không có triệu chứng và 15 đến 20% phát hiện ở các phòng khám nam khoa. Nhiễm khuẩn Chlamydia sơ sinh là hậu quả của phơi nhiễm trong chu kỳ sinh sản (khoảng 65% trẻ sơ sinh bị lây từ người mẹ có nhiễm khuẩn). Thách thức lớn nhất trong việc kiểm soát bệnh gây ra bởi Chlamydia là khoảng 70 đến 80% phụ nữ và lên tới 50% nam giới nhiễm bệnh mà không có kiến thức về các triệu chứng. Miễn dịch sau nhiễm khuẩn chỉ có với từng dạng cụ thể và chỉ là bảo vệ một phần; do đó tái nhiễm khuẩn là phổ biến. Phần lớn các trường hợp nhiễm khuẩn Chlamydia trachomatis là phụ nữ trẻ tuổi (< 20 tuổi).
Việc phát hiện kháng thể IgA đặc hiệu có thể chỉ định tình trạng nhiễm cấp và được coi là một chỉ tố quan trọng do thời gian tồn tại của IgA rất ngắn và chỉ tồn tại khi có sự kích thích của kháng nguyên. Ngoài ra, việc phát hiện kháng thể IgA còn thích hợp để theo dõi điều trị. Kháng thể IgG là chỉ điểm cho đáp ứng miễn dịch dương tính với Clamydia cũng như tình trạng nhiễm cấp, mạn tính hay nhiễm khuẩn trong quá khứ.
Phương pháp bán định lượng IgG đặc hiệu cho Chlamydia trachomatis là một xét nghiệm miễn dịch hóa phát quang gián tiếp (CLIA). Để kết quả có độ tin cậy cao thì phải xét nghiệm cả 2 loại kháng thể IgA và IgG. Hệ thống tự động tính toán nồng độ kháng thể Chlamydia trachomatis IgG theo đơn vị AU/mL và phân loại kết quả: Dải đo 5 đến 250 AU/mL Chlamydia trachomatis IgG.
Kết quả mẫu bệnh phẩm được giải thích như sau:
Các mẫu có nồng độ Chlamydia trachomatis IgG dưới 9AU/mL là âm tính.
Các mẫu có nồng độ Chlamydia trachomatis IgG trong khoảng 9 và 11 AU/mL được phân loại khoảng nghi ngờ (vùng xám). Mẫu này phải được kiểm tra lại để xác nhận kết quả ban đầu. Sau khi chạy kiểm tra lại nếu mẫu cho kết quả dương tính thì kết luận dương tính, nếu kết quả âm tình thì kết luận mẫu âm tính. Nếu vẫn nằm trong vùng xám thì sẽ lấy mẫu kiểm tra lại sau 1 đến 2 tuần.
Các mẫu có nồng độ Chlamydia trachomatis IgG ≥ 11AU/mL là dương tính.
Kết quả âm tính với kháng thể IgG Chlamydia trachomatis thường chỉ ra rằng các bệnh nhân không bị nhiễm Chlamydia trachomatis. Tuy nhiên, nó không loại trừ khả năng bị nhiễm Chlamydia trachomatis cấp tính, vì ở giai đoạn rất sớm và bệnh nhân có thể chưa có kháng thể đặc hiệu hoặc các kháng thể ở mức thấp không phát hiện.
Kết quả dương tính với kháng thể IgG Chlamydia trachomatis có thể chỉ ra tình trạng nhiễm trùng hiện tại, quá khứ hoặc mạn tính.
Giải thích dựa trên kết hợp kết quả xét nghiệm IgA và IgG

Kết quả xét nghiệm Chlamydia trachomatis IgG bán định lượng (dương tính hoặc nghi ngờ hoặc âm tính). Tuy nhiên, chẩn đoán nhiễm khuẩn nên được xem xét dựa trên từng kết quả cụ thể, kết hợp với các dấu hiệu lâm sàng và tiến hành các chẩn đoán khác cũng như liên quan tới quyết định sử dụng thuốc.

Khoa Vi Sinh Vật – Bệnh viện TƯQĐ 108