Y học thường thức

Cục Quản lý Dược và Thực phẩm của Hoa Kỳ (FDA) đang bật đèn xanh cho liệu pháp điều trị đích phối hợp đối với bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) di căn mang đột biến BRAF V600E. FDA đã chấp thuận Dabrafinib kết hợp với Trametinib và đây được xem như liệu pháp điều trị đích dựa trên dấu ấn sinh học di truyền thứ 4 trong điều trị NSCLC. Ba dấu ấn di truyền trước đây đã được chỉ ra có vai trò trong dịnh hướng điều trị đích đối với bệnh nhân NSCLC là EGFR, ALK và ROS-1.
Sự chấp thuận này dựa trên dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả điều trị của nghiên cứu lâm sàng pha II (được tiến hành ở nhiều trung tâm nghiên cứu) về việc kết hợp Dabrafenib với Trametinib trong điều trị bệnh nhân NSCLC giai đoạn IV mang đột biến BRAF V600E. Bệnh nhân được lựa chọn tham gia nghiên cứu được chia làm hai nhóm gồm: 36 bệnh nhân chưa từng qua bất cứ trị liệu nào và 57 bệnh nhân đã qua hóa trị liệu.

Nhóm 36 bệnh nhân chưa từng qua điều trị được chỉ định dùng 150mg Dabrafenib hai lần mỗi ngày và một liều 2mg Trametinib mỗi ngày. Tỷ lệ đáp ứng (ORR) của nhóm này là 61%. Nhóm 57 bệnh nhân đã qua hóa trị liệu cũng được chỉ định dùng phối hợp thuốc với liều tương tự, kết quả cho thấy ORR là 63%. Thời gian trung bình của sự đáp ứng điều trị đối với nhóm chưa qua hóa trị liệu không ước lượng được, trong khi nhóm đã qua hóa trị liệu là 12,6 tháng.

Các tác dụng phụ thường gặp đối với các bệnh nhân được chỉ định điều trị phối hợp Dabrafenib và Trametinib (xuất hiện với tần xuất khoảng 20%) là sốt, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, da khô, biếng ăn, phù, phát ban, ớn lạnh, xuất huyết, ho và khó thở.

Liệu pháp điều trị kết hợp được chấp thuận cùng với chẩn đoán đồng hành dựa trên kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS) để xác định đột biết BRAF V600E trên bệnh nhân đã qua sàng lọc.

Dabrafenib và Trametinib nhắm đến các mục tiêu Kinases khác nhau trong họ serine/threonine kinase nằm trong một chu trình tế bào liên quan tới NSCLC cũng như trong u hắc tố và một số ung thư khác. Liệu pháp kết hợp hai loại thuốc này đã cho thấy sự phát triển của các khối u tăng chậm hơn so với điều trị đơn thuần một loại thuốc. Hai loại thuốc này hiện cũng đang được nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng điều trị một số u khác.

Phó giáo sư Tracey Evans thuộc Khoa Huyết học và Ung thư tại Trung tâm Ung thư Abramson, Philadelphia, Pennylvania cho biết, sự chấp thuận liệu pháp điều trị kết hợp này là một tin tốt lành, tuy nhiên vẫn còn cả một con đường dài phía trước:” Liệu pháp này chỉ áp dụng cho một phần rất nhỏ các bệnh nhân ung thư phổi và điều này không đại diện cho một phương pháp chữa bệnh. Nó chỉ là sự ghi nhận sâu hơn rằng không phải tất cả ung thư phổi đều giống nhau. Điều quan trọng là phải kiểm tra xem ung thư phổi mang đột biến và chuyển vị gì để từ đó có thể điều trị đích bằng các thuốc uống thích hợp.”

PGS. Evans cũng cho biết đột biến phổ biến nhất là EGFR, chiếm khoảng 10% bệnh nhân NSCLC (dạng không phải ung thư phổi tế bào vảy), tiếp theo là ALK khoảng 3%-7%. Bên cạnh đó là các đột biến và chuyển vị được tìm thấy ở các gene như ROS1, RET, cMet và riêng BRAF V600E chiếm 1-3% (Tỷ lệ này thay đổi ở các khu vực khác nhau). Ngày nay, tất cả các đột biến này đều có phương pháp điều trị đích riêng với hiệu quả điều trị vượt trội hơn hẳn hóa trị liệu gây độc tế bào và liệu pháp miễn dịch.

John Schieszer
TS. Trần Thị Huyền Trang dịch