Kỹ thuật chuyên sâu

Để bé phát triển toàn diện ngay từ khi còn trong bụng mẹ cho tới lúc chào đời, thai phụ cần lựa chọn chế độ dưỡng thai và có sự theo dõi chuyên nghiệp nhất.

Quản lý thai nghén hay còn gọi là chăm sóc trước sinh có vai trò bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ và thai nhi khi còn trong tử cung. Qua đó người thầy thuốc có thể nắm chắc tình trạng sức khỏe bà mẹ và thai nhi, để tiên lượng và chuẩn bị tốt cho cuộc đẻ, đề phòng các nguy cơ khi chuyển dạ.

Việc khám thai phải thực hiện đúng quy trình chuẩn với các bước cơ bản như: Hỏi, khám toàn thân, khám sản khoa, thử nước tiểu, vệ sinh thai nghén, tiêm chủng phòng ngừa bệnh, siêu âm thai… Tuy nhiên, không phải bà mẹ nào cũng nhận thức được như vậy nên việc đi đăng ký quản lý thai sớm trong ba tháng đầu không thực hiện nghiêm túc. Thực tế, có một số ít phụ nữ mang thai ít đi khám thai, gần đến ngày đẻ mới vào bệnh viện. Điều này rất nguy hiểm, việc xử trí các bệnh lý của sản phụ và bác sỹ sẽ khó tiên lượng tình trạng sức khỏe của sản phụ và thai nhi trong quá trình sinh nở.

Để đánh giá được sức khỏe của mẹ và bé toàn diện, ngoài việc thăm khám lâm sàng các thai sàng còn được kiểm tra bằng các xét nghiệm cận lâm sàng:


1. Xét nghiệm công thức máu:
Dòng hồng cầu: Ở thai phụ thường bị thiếu máu nhược sắc vì cơ thể mẹ phải qui tụ sắt để nuôi bào thai.Thiếu máu ở phụ nữ khi mang thai nếu nhẹ thì không có vấn đề gì nhưng nặng sẽ đặc biệt nguy hiểm vì có thể làm tăng nguy cơ sảy thai, nhau tiền đạo, nhau bong non, tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, ối vỡ sớm, băng huyết sau sinh, nhiễm trùng hậu sản… Ngoài ra, nếu có xuất huyết hậu sản sẽ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng người mẹ. Hơn thế nữa, mẹ thiếu máu dễ sinh con thiếu máu, nhẹ cân, sinh non tháng, suy thai và tăng khả năng bị các bệnh sơ sinh hơn so với bình thường. Đặc biệt, con của những bà mẹ thiếu máu giai đoạn sớm thai kỳ còn có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn trẻ khác.
Dòng bạch cầu: Thể hiện khả năng đáp ứng của mẹ với nhiễm trùng
Dòng tiểu cầu: Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong cầm máu và chống chảy máu. Vì vậy, với phụ nữ trong thời kỳ thai nghén giảm số lượng hay chức năng của tiểu cầu cần được lưu ý, bởi vì các nguy cơ chảy máu có thể xảy ra và đặc biệt là lúc sinh đẻ.

2. Nhóm máu
Định nhóm máu A, B, AB, O và yếu tố Rhesus cần được xác định trong lần khám thai đầu tiên. Nếu mẹ mang Rh (-) có nguy cơ gây bất đồng nhóm máu với thai nhi, có thể dẫn đến thiếu máu tán huyết, vàng da nặng sớm sau sinh gây suy gan, suy tim.

Như vậy, nếu mẹ được xác định có Rh (-) sẽ được tư vấn kỹ lưỡng tại các chuyên khoa huyết học và chủ động phòng bệnh bằng cách truyền Anti-D, bảo đảm an toàn cho cả mẹ và con khi sinh.

3. Siêu âm hình thái học thai nhi
Siêu âm để phát hiện các dị tật thai nhi, các khiếm khuyết không thể sửa chữa sau sinh giúp cho sàng lọc trước sinh thực hiện tốt, đảm bảo một em bé khỏe mạnh được ra đời.

4. Xét nghiệm miễn dịch: HIV, viêm gan B
Việt Nam là nước có tỉ lệ người nhiễm viêm gan B cao so với thế giới, chiếm khoảng 15%- 20% dân số. Điều đáng nói là có tới 90% – 95% mẹ bị nhiễm virut viêm gan B lây sang con nếu không có biện pháp bảo vệ ngay sau khi sinh, 50% số trẻ này sẽ bị viêm gan mạn tính và có nguy cơ bị xơ gan lúc trưởng thành.
Nếu mẹ xét nghiệm có mang virus viêm gan B mãn tính sau sinh bé sẽ được tiêm phòng vaccine viêm gan B (miễn phí theo chương trình TCMR) và chỉ định tiêm 1 liều huyết thanh kháng virus viêm gan B (ImmunoHBs 180 UI) giúp ngăn sự lây truyền từ mẹ sang con tới 99%.

5. Xét nghiêm máu tìm kháng nguyên với các bệnh: Rubella, Giang mai, Toxoplasma, CMV
Bệnh Toxoplasma gondii (một loại đơn bào ký sinh ở mèo) cũng khiến cho gần 5.000 thai phụ VN bị nhiễm mỗi năm. Đây là loại ký sinh trùng phổ biến nhất, lây từ động vật sang người thông qua thực phẩm, nước uống bị nhiễm khuẩn. Ký sinh này có thể tàn phá nghiêm trọng bào thai: 5-10% sẩy thai, 8-10% trẻ sơ sinh bị tổn thương mắt, có thể kèm theo tổn thương não rất nghiêm trọng, 10-13% trẻ sơ sinh bị tổn thương thị giác.
Với bệnh Rubella còn gọi là sởi Đức, nguy hiểm nhất là mắc Rubella trong ba tháng đầu thai kỳ sẽ khiến 90% trẻ có thể bị mù lòa, điếc, bệnh tim mạch, chậm phát triển trí tuệ, sẩy thai cao. Với bệnh giang mai, trong số những bà mẹ mắc bệnh giai đoạn sớm của thai kỳ, nếu không điều trị, 40% trường hợp bị sẩy thai. Còn nếu mắc Cytomegalovirus (một loại virus phổ biến trên toàn cầu, lây chủ yếu qua đường tình dục), sẽ khiến cho 10% trẻ sơ sinh bị biến chứng về sau, trong đó có 80-90% trẻ bị dị tật nặng như: mất thính giác, khiếm thị, chậm phát triển trí tuệ.

6. Nước tiểu toàn bộ
Đây là một xét nghiệm thường quy được chỉ định trong mỗi lần khám thai, nhằm phát hiện ra các bệnh lý về thận, nhiễm trùng đường tiết niệu (hay xảy ra ở phụ nữ có thai), phát hiện nguy cơ tiền sản giật và bệnh đái tháo đường thai kỳ.

7. Nghiệm pháp dung nạp đường huyết
Chỉ định: béo phì, tăng cân nhanh, gia đình trực hệ đái tháo đường, tiền căn bản thân sinh con to, thai dị tật hoặc thai lưu lớn không rõ nguyên nhân, đường niệu dương tính, đường huyết lúc đói > 5,3 mmol/L.
Đái tháo đường trong thời kỳ mang thai sẽ gây nguy hiểm cho cả mẹ và con. Người mẹ có nguy cơ phải mổ lấy thai; dễ bị tăng huyết áp, phù; trở thành bệnh nhân đái tháo đường, thai chết lưu. Trẻ sinh ra có thể bị dị tật bẩm sinh (cao gấp 8 lần bình thường), hoặc mắc các bệnh vàng da kéo dài, hạ canxi máu, suy hô hấp, nhiễm trùng huyết…

8. Xét nghiệm sinh hóa máu
Đánh giá chức năng các cơ quan cơ bản:
- Nhóm gan: men gan (GOT,GPT), bilirubin.
- Nhóm thận: ure, creatinine, axit uric.
- Protein máu.
- Điện giải: Na, K, Cl.

9. Chức năng đông chảy máu
Đánh giá chức năng đông máu của thai phụ, tránh trường hợp có bệnh lý rối loạn đông chảy máu khiến cho băng huyết sau sinh, nguy hiểm đến tính mạng của thai phụ.

10. Siêu âm Dopler màu tim và điện tim
Nhằm phát hiện các bệnh lý tim mạch như hở hẹp van 2 lá, thiếu máu cơ tim … do khi mang thai cơ thể mẹ phải tăng gánh nặng lên tuần hoàn vì vậy việc thăm khám cẩn thận tình trạng tim mạch và đánh giá khả năng gắng sức là hết sức quan trọng để xác định khả năng dung nạp của bệnh nhân với những thay đổi về huyết động trong quá trình mang thai và nguy cơ bị biến chứng trong thời kỳ chuyển dạ và đẻ.

11. Monitoring sản khoa
Monitoring sản khoa ghi lại đồng thời nhịp tim thai và hoạt động cơ tử cung. Các bác sỹ sẽ đánh giá các đặc điểm của nhịp tim thai và khả năng chịu đựng của thai nhi khi có cơn co tử cung để phát hiện các bất thường trong quá trình theo dõi chuyển dạ nhằm can thiệp kịp thời và cần thiết cho mẹ và thai.

Thấu hiểu tầm quan trọng của việc khám thai, chúng tôi xin cập nhật chế độ thăm khám tại khoa Phụ Sản bệnh viện TƯQĐ 108, giúp cho mẹ bầu và gia đình giải tỏa hoàn toàn nỗi băn khoăn trong suốt thời kỳ mang thai và lên kế hoạch đi khám đảm bảo một thai kỳ an toàn:

 Tuổi thai  Lịch hẹn tái khám Các xét nghiệm cần làm trong quí 
 Quí I (từ khi có thai đến 13 tuần 6 ngày)  - Khám lần đầu: sau trễ kinh 2-3 tuần

- Khám lần 2: lúc thai 11-13 tuần 6 ngày
 
1. Công thức máu.
2. Sinh hóa máu (đường huyết lúc đói).
3. Nước tiểu 10 thông số.
4. HbsAg, HIV, Rubella, CMV, Giangmai, Toxoplasma
5. Nhóm máu, Rhesus.
6. Siêu âm tim.
7. Siêu âm lần 1.
8. Siêu âm đo độ mờ da gáy (thai 12 tuần).
9. Double test (sau khi siêu âm đo độ mờ da gáy).
 Quí II (từ 14 đến 28 tuần)  - 4 tuần khám 1 lần

1. Công thức máu.
2. Sinh hóa máu.
3. Nước tiểu 10 thông số
4. Nghiệm pháp dung nạp đường huyết ở tuổi thai 24-28 tuần.
5. Triple test: ở tuổi thai 14-21 tuần.
6. Siêu âm: siêu âm hình thái học (hoặc 3D,4D) tối thiểu 1 lần ở tuổi thai 20-25 tuần.
 Quí III (từ 29 đến 40 tuần)  - Tuần 29-32: khám 1 lần
- Tuần 33-35: 2 tuần khám 1 lần
- Tuần 36-40: 1 tuần khám 1 lần

1. Công thức máu
2. Sinh hóa máu
3. Nước tiểu 10 thông số (mỗi lần khám)
4. Siêu âm
- Siêu âm tối thiểu 1 lần lúc thai 32 tuần. Có thể lập lại mỗi 4 tuần.
- Siêu âm màu (thai ≥28 tuần) khi nghi ngờ thai chậm phát triển.
5. Chức năng đông máu.
6. Điện tim.
7. Siêu âm tim.
8. Theo dõi monitor sản khoa: khi có chỉ định.
9. Những xét nghiệm chuyên biệt được chỉ định theo y lệnh bác sỹ: bệnh tim, bệnh thận, tuyến giáp…

Ngoài ra, lần khám thai nào thai phụ cũng được theo dõi về cân nặng (phụ nữ mang thai quá gầy hoặc quá béo đều có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thai nhi và lúc sinh nở. Nếu mẹ bầu quá gầy thì cần bổ sung dinh dưỡng, nếu quá béo cũng cần điều chỉnh cân nặng để tránh các nguy cơ bị đái tháo đường, huyết áp cao, tiền sản giật và phải mổ lấy thai) và đo tim mẹ, tim thai, huyếp áp mẹ, bề cao tử cung và vòng bụng để theo dõi sự phát triển và sức khỏe thai nhi.

Như vậy, một thai kỳ bao giờ cũng có nguy cơ thấp hay là cao, cần có sự hợp tác, hỗ trợ tốt giữa thầy thuốc và thai phụ để cho thai kỳ được kết thúc tốt đẹp, mẹ tròn con vuông, từ đó mới có thể giảm được tỷ lệ tử vong chu sinh cho cả mẹ và con, mới có thể cho ra đời những em bé thông minh và khỏe mạnh.

Khoa Phụ sản – Bệnh viện TƯQĐ 108