Kỹ thuật chuyên sâu

Người bình thường lượng nước chiếm khoảng 50% trọng lượng cơ thể ở phụ nữ và 60% trọng lượng cơ thể ở đàn ông. Sự khác biệt này là do tỉ lệ mô mỡ ở phụ nữ cao hơn đàn ông. Nghĩa là tăng thành phần mỡ sẽ làm giảm tỉ lệ phần trăm nước trong cơ thể. Tỷ lệ nước cũng thay đổi theo quá trình sống: Ở trẻ em nước chiếm 75% trọng lượng cơ thể, người già chỉ còn 50%. Nước trong cơ thể được chia thành 2 khu vực chủ yếu: Khu vực nội bào nước chiếm 55 - 75%, ngoại bào: 25 - 45%. Khu vực ngoại bào bao gồm nước trong lòng mạch (huyết tương) và ngoài lòng mạch với tỉ lệ 1/3.

Với bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ có thể có phù nhiều, phù ít hoặc không phù tùy theo nguyên nhân gây suy thận hay tình trạng bệnh. Suy thận mạn do viêm thận bể mạn thường không phù trong giai đoạn đầu, chỉ có phù trong giai đoạn cuối. Trong khi suy thận mạn do hội chứng thận hư, viêm cầu thận mạn phù là triệu chứng thường gặp. Bất kỳ nguyên nhân nào, khi suy thận mạn giai đoạn cuối, phù là triệu chứng hằng định. Cơ chế chính là do các cầu thận đã suy không lọc được nước, mất cân bằng nước điện giải. Trong khi đó lọc máu đã không rút hết dịch. Ngoài ra còn 1 số yếu tố khác như tim suy, giảm dinh dưỡng, suy gan …cũng góp phần gây phù ở người bệnh.

Khi quá tải dịch ở bệnh nhân suy thận mạn hay gặp 1 số biến chứng cấp tính và mãn tính sau: phù phổi cấp, tràn dịch màng phổi, phù não, suy tim, tăng huyết áp, phù ngoại vi…nếu không điều trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng. Chính vì vậy ứng dụng máy đo BCM trên lâm sàng để đo chính xác lượng nước dư trong cơ thể bệnh nhân suy thận mạn có ý nghĩa rất quan trọng trong nâng cao chất lượng điều trị cũng như hiệu quả kinh tế.

1. Giới thiệu về máy BCM

Thiết bị BCM được sản xuất tại Đức do hãng Fresenus Kabi đưa vào sử dụng tại khoa Thận - Lọc máu bệnh viện trung ương Quân đội 108 từ tháng 4 năm 2015 cho đến nay.

BCM là công cụ để đánh giá tình trạng dịch và dinh dưỡng theo từng cá thể, được thiết kế đặc hiệu dành cho bệnh nhân suy thận. Đây là một phương pháp đo lường không xâm nhập, nhanh, đơn giản, có thể sử dụng lại nhiều lần, và đã được đánh giá bởi nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước.
Kết quả của máy BCM cho phép:
- Theo dõi liên tục thành phần cơ thể,
- Đánh giá tình trạng thừa dịch,
- Xác định thể tích phân bố urea để tính liều lọc máu,
- Là một chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng.

2. Nguyên lý hoạt động của máy BCM
Máy BCM là sự kết hợp của hai mô hình công nghệ: mô hình thể tích và mô hình thành phần cơ thể.
- Mô hình thể tích: Ứng dụng sự truyền qua tế bào của dòng điện để xác định thể tích nước của toàn bộ cơ thể (Total Body Water - TBW) và thể tích dịch ngoại bào (Extracellular Water - ECW), từ đó tính được thể tích dịch nội bào (Intracellular Water - ICW).
- Mô hình thành phần cơ thể: tính toán tỉ lệ các thành phần mô mỡ, mô cơ, và dịch thừa trong cơ thể dựa theo thông tin về ECW và TBW.

Mô hình thể tích ứng dụng công nghệ đo phổ sinh trở kháng (BIS) đa tần, dựa trên khả năng truyền qua tế bào khác nhau của dòng điện ở những tần số khác nhau. Đối với dòng điện có tần số thấp, tế bào đóng vai trò chất cách điện không cho dòng điện đi qua; còn đối với dòng điện có tần số cao, tế bào đóng vai trò chất

Hình 1 Nguyên lý hoạt động của máy đo BCM bằng dòng điện 1 chiều dẫn điện. Dựa trên sự thay đổi về khả năng dẫn điện, kết hợp với các mô hình toán học, người ta có thể xác định được thể tích nước của toàn bộ cơ thể và thể tích dịch ngoại bào.

2.1 . Quy trình sử dụng máy BCM

Bệnh nhân nằm nghỉ ở tư thế nằm ngửa hoặc nửa nằm nửa ngồi trong ít nhất 5 phút nhằm cân bằng lại dịch giữa các khoang. Loại bỏ hết những vật kim loại ra khỏi cơ thể bệnh nhân. Hai chân và hai tay duỗi thẳng, không để chạm vào nhau.

Đặt các điện cực lên bàn tay và bàn chân theo hướng dẫn lắp đặt của máy. Kết nối dây cáp với các điện cực, tránh để xoắn dây cáp.

Nhập các thông số của bệnh nhân như chiều cao, cân nặng, ngày sinh ...
Hướng dẫn bệnh nhân nằm yên, không nói và cử động trong quá trình
đo. Sau khoảng 2 phút từ khi bắt đầu đo, máy sẽ hiển thị kết quả và lưu thông tin lại vào thẻ dữ liệu của bệnh nhân (nếu có).
Đối với bệnh nhân lọc máu, nên đo trước lọc để đánh giá tình trạng dịch của bệnh nhân. Trong trường hợp đo sau lọc, nên chờ ít nhất 30 phút trước khi đo để dịch trở lại cân bằng giữa các khoang trong cơ thể.
2.2. Một số thông số đo được từ máy BCM
+ ATM (Adipose Tissue Mass) Khối lượng của tất cả mô mỡ
+ BCM (Body Cell Mass) Tổng khối lượng mô tế bào trong cơ thể
+ ECW (Extracellular Water) Lượng nước ngoại bào
+ ICW (Intracellular Water) Lượng nước nội bào
+ OH (Overhydration) Lượng nước dư
+ BMI (Body Mass Index) Chỉ số trọng lượng cơ thể
Hình 2. Một số hình ảnh đo được từ máy BCM



BS CKI. Tống Thị Thu Hằng
Khoa Lọc máu – Bệnh viện TƯQĐ 108