Kỹ thuật chuyên sâu

Ngày nay, hút thuốc lá cùng với sự ô nhiễm môi trường bởi khói bụi và hóa chất độc hại đang trở thành những yếu tố nguy cơ chính gây nên căn bệnh ung thư trong đó có ung thư phổi.

Ung thư phổi là loại ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư hàng đầu trên thế giới. Theo thống kê của Hội ung thư Hoa kỳ năm 2007 trên thế giới có 1,5 triệu ca mới mắc ung thư phổi chiếm tỷ lệ 12% tất cả các loại ung thư được chẩn đoán. Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ung thư ở nam giới và là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong do ung thư ở nữ giới. Năm 2007 trên thế giới có 975.000 nam giới và 376.000 nữ giới tử vong do ung thư phổi.

Dựa vào đặc điểm mô bệnh học, Tổ chức y tế thế giới chia ung thư phổi thành 2 loại chính là: Ung thư phổi không tế bào nhỏ (Non-Small Cell Lung Cancer) và ung thư phổi tế bào nhỏ (Small Cell Lung Cancer). Trong đó ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm tỉ lệ khoảng 85% các bệnh nhân ung thư phổi và gồm các loại: ung thư biểu mô tuyến (Adeno carcinoma), ung thư biểu mô vảy (Squamous cell carcinoma), ung thư tế bào lớn (Large cell carcinoma).

Các triệu chứng lâm sàng của ung thư phổi thường không đặc hiệu nên dễ bị bệnh nhân bỏ qua, do đó ung thư phổi thường được phát hiện muộn. Theo các nghiên cứu, chỉ có khoảng 30% bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ được chẩn đoán ở giai đoạn sớm (giai đoạn I, II) và 70% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV). Vì vậy, dù đã có nhiều bước tiến trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi, tuy nhiên ung thư phổi vẫn có tiên lượng xấu và tỉ lệ sống thêm 5 năm thấp.

Hiện nay các phương pháp điều trị ung thư phổi bao gồm: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và điều trị đích. Xu hướng chung điều trị ung thư phổi là điều trị đa mô thức. Việc lựa chọn và kết hợp các phương pháp điều trị phụ thuộc vào týp mô bệnh học và giai đoạn bệnh. Những trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, phẫu thuật là biện pháp lựa chọn hàng đầu cho kết quả điều trị tốt với tỉ lệ sống thêm sau 5 năm đạt 50 – 70%. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều bệnh nhân không thể tiến hành phẫu thuật được do có các bệnh lý kết hợp hoặc không có mong muốn phẫu thuật dù ở giai đoạn sớm, làm mất đi cơ hội điều trị triệt căn. Vậy đâu là lựa chọn thay thế hiệu quả?.

Gần đây do sự phát triển của khoa học kỹ thuật nói chung và kỹ thuật xạ trị nói riêng đã cho ra đời các loại máy điều trị xạ tiên tiến trong đó có CyberKnife. Với CyberKnife, bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn sớm có thêm một lựa chọn điều trị nữa đó là xạ trị lập thể định vị thân (Stereotactic body radiation therapy). Đây được coi là biện pháp “phẫu thuật” không xâm lấn cho độ chính xác và hiệu quả cao, ít tai biến biến chứng, thời gian điều trị nhanh.

Tại Việt Nam, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là bệnh viện duy nhất được trang bị hệ thống điều trị này. Hiện nay, Khoa Lao và Bệnh phổi (A5) đang phối hợp cùng với Trung tâm CyberKnife thực hiện kỹ thuật xạ trị lập thể định vị thân điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm với chỉ định như sau:

* Chỉ định:

- Bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I (T1-2a N0 M0), kích thước U <5cm ( nghĩa là ung thư phổi có u dưới 5 cm, chưa có di căn hạch và di căn xa).
- Bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật do tuổi cao hoặc có các bệnh lý kèm theo: bệnh phổi - phế quản gây giảm chức năng hô hấp, suy tim, nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, đái tháo đường chưa điều trị ổn định…
- Thang điểm toàn trạng tốt: ECOG 0-2đ
- Bệnh nhân không có nguyện vọng phẫu thuật.

Tại một số quốc gia trên thế giới, biện pháp điều trị này còn có thể áp dụng cho những trường hợp bệnh nhân giai đoạn IV(T1-2a N0 M1) - bệnh nhân chỉ có 1 ổ nguyên phát tại 1 bên phổi và 1 ổ bên phổi dối diện, hoặc có 1 ổ tổn thương tại phổi và 1 ổ tổn thương tại não.

* Quy trình điều trị:

- Bệnh nhân được khám lâm sàng và làm các xét nghiệm để chẩn đoán xác định bệnh, týp mô bệnh học, giai đoạn bệnh tại khoa A5.
- Đặt Fiducial tại trung tâm CyberKnife.
- Chụp CT lồng ngực theo tiêu chuẩn CyberKnife (sau đặt Fiducial 5-7 ngày).
- Lập kế hoạch điều trị: vẽ và kê liều xạ khối u và vùng cần bảo vệ.
- Liều điều trị thường từ 1 đến 3 phân liều tương đương với 1 đến 3 buổi điều trị.

Kết quả bước đầu cho thấy kỹ thuật này cho kết quả điều trị tốt hơn xạ trị thông thường và hiệu quả khả quan, hứa hẹn sẽ là lựa chọn điều trị xạ triệt căn tốt đối với các trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm không có chỉ định phẫu thuật.

Mọi chi tiết liên hệ:
- Khoa Lao và Bệnh phổi (A5) Số điện thoại: 0462784144.
- Hoặc Trung tâm CyberKnife.