Đường dây nóng: 069.698.735

Các bài viết về ký ức 108

Tôi về công tác tại Khoa tiết niệu Quân y viện 108, từ tháng 4 năm 1967 cho đến nay, sau khi ở chiến trường Nam Lào ra. Sau đó...
Tôi về công tác tại Khoa tiết niệu Quân y viện 108, từ tháng 4 năm 1967 cho đến nay, sau khi ở chiến trường Nam Lào ra. Sau đó đi nghiên cứu sinh ở Học viện Y học quân sự Liên Xô. Thời gian này anh Trần Mạnh Chu làm Chủ nhiệm khoa. Anh cũng đã đi làm nghiên cứu sinh trước đó nhiều năm ở Liên Xô về. Lúc này toàn quốc vẫn còn chiến tranh. Miền Bắc phải chống lại chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, đồng thời vẫn phải chi viện mọi mặt cho các chiến trường B và C. Khoa vẫn phải cấp cứu cho thương bệnh binh, vẫn phải mổ xẻ điều trị các di chứng vết thương chiến tranh về tiết niệu sinh dục còn lại trong chiến tranh chống Pháp và các thương binh ở Miền Nam ra. Song song với các việc kể trên, khoa vẫn nghiên cứu phát triển các phương pháp điều trị các bệnh lý thời bình của chuyên ngành sâu là Tiết niệu của ngành ngoại nói chung.

Quân y viện 108 là một bệnh viện tuyến cuối cùng của quân đội và của Trung ương. Đối tượng phục vụ ở đây phần lớn là cán bộ, sỹ quan trung, cao cấp, là những người đã vào sinh ra tử, có nhiều công lao đóng góp trong các cuộc chiến tranh vĩ đại bảo vệ tổ quốc.

Đã có biết bao nhiêu kỷ niệm không bao giờ quên của đời người phẫu thuật viên. Ở đây tôi sẽ kể về một số kỷ niệm sâu sắc trong số các kỷ niệm mà tôi đã viết trong quyển hồi ức của tôi: “Những thương binh và bệnh binh của tôi”, những kỷ niệm không bao giờ quên, đặc biệt là các kỷ niệm khi công tác tại chuyên khoa tiết niệu.

Câu chuyện thứ 1:
Chuyện xảy ra cho đến nay đã hơn 30 năm. Đó là bệnh nhân Nguyễn Thị Nh, khoảng 30 - 32 tuổi là một bệnh nhân thuộc chuyên khoa sản. Chị là một văn công quân khu Tây Bắc, có khổ người cao to, có thai lần đầu, bị đẻ khó, nên được chuyển về Quân y viện 108. Do đẻ khó, khoa sản phụ mặc dầu đã thực hiện các biện pháp hỗ trợ, nhưng cuối cùng vẫn phải mổ lấy thai từ lúc 04h30’ sáng. Sau mổ lại bị chảy máu do tử cung đờ, không như những sản phụ bình thường. Đến 10h sáng phải đưa lên mổ cắt bỏ tử cung, khi không còn khả năng bảo tồn được. Nhưng sau đó lại vẫn không ổn, diễn biến không tốt, vẫn chảy máu nhỏ giọt. Lúc này đã là 17h chiều, các bác sĩ ở khoa sản rất lo lắng, mà chưa giải thích được nguyên nhân, có nghi vấn là lúc cắt bỏ tử cung, có thể có sơ sót nào ở ổ bụng gây ra chảy máu, nên phải mời khoa phẫu thuật bụng do bác sĩ T.Q.H và các anh em khác mở ổ bụng để kiểm tra. Nhưng kết quả mổ ra ổ bụng rất sạch, không có thương tổn gì và đóng ổ bụng. Người bệnh vẫn phải được theo dõi liên tục và dùng các biện pháp hỗ trợ, thử máu, truyền máu, truyền dịch, mà vẫn chảy máu nhỏ giọt, làm cho huyết áp tụt dần. Việc săn sóc theo dõi bệnh nhân liên tục có chị Th. Là bác sĩ, Phó chủ nhiệm khoa sản phụ và các chị em khác. Lúc này đã là 19h30’. Tôi được mời đến viện bằng xe Com-măng-ca khi tôi đang ở nhà chỉ cách viện 500m. Thật ra thời gian này ta còn rất nhiều khó khăn. Các gia đình kể cả gia đình cán bộ sĩ quan cũng chẳng có điện thoại riêng, dù là điện thoại quân sự để liên lạc và làm việc. Bệnh nhân lại được đưa lên bàn mổ lần thứ 4 trong ngày, trong tình trạng thật là nguy kịch, huyết áp vẫn tụt, mặc dầu vẫn được truyền máu, truyền dịch. Bệnh nhân phải mổ lại. Vấn đề quan trọng lúc này là phải tìm cho được nguyên nhân. Phải tìm lại chỗ mổ cắt bỏ tử cung mới mổ cũ, thắt mỗi bên 2 mạch máu (động mạch chậu trong, nó là nguyên ủy của động mạch tử cung và một nhánh của động mạch tử cung). Thật là vô cùng phấn khởi khi mà tìm được nguyên nhân chảy máu, xử trí được nguyên nhân của nó, thì huyết áp tăng dần, cho đến mức 120/80mm/Hg ngay ở tại phòng mổ và được coi là an toàn. Sau 30 ngày bệnh nhân được ra viện cùng với cháu bé, thật là mẹ tròn con vuông. Sau này trong hội nghị tổng kết thi đua, chị Th. đã có khích lệ mà nói rằng: Bệnh nhân tưởng chừng như đã dần dần chết trong tay tôi, mà đã được cứu sống.

Ở đây cũng nói lên một kết quả điều trị thật đáng vô cùng phấn khởi, thể hiện ở sự bám sát theo dõi tận tình của các chị em ở khoa sản phụ, là sự kết hợp tranh thủ sự hiệp đồng của nhiều chuyên khoa của toàn bệnh viện, khi thấy sự việc vượt ra khỏi khả năng của chuyên khoa mình, tất cả vì người bệnh. Nhưng cũng phải thấy rằng: trách nhiệm và tình cảm đã đè nặng lên vai người phẫu thuật viên như thế nào, khi phải tiến hành mổ cho bệnh nhân lần thứ tư trong ngày, giữa cái sống và cái chết rất mong manh.

Câu chuyện thứ 2:
Làm sao quên được một người bệnh quê ở Nghệ An. Do kinh tế gia đình có khó khăn, cả nhà đã phải đi xây dựng quê hương mới ở ĐăcLăk Tây Nguyên, để trồng cà phê. Nhờ vậy mà gia đình đã đỡ cảnh nghèo khổ. Nhưng không may lại bị bệnh hiểm nghèo. Bệnh nhân đã phải đi khám ở tất cả mọi nơi, mà khả năng có thể đến được từ thành phố Hồ Chí Minh, lại ra Hà Nội. Người ta đã thăm dò, khám xét, chọc dò ổ bụng vì có hiện tượng ứ dịch ở ổ bụng, với 7 lần hút tất thảy 14 lít dịch, không phải dịch cổ trướng do xơ gan, mà là dịch dưỡng chấp giống như nước sữa. Đây là một bệnh rất hiếm gặp, mà còn được gọi là báng dưỡng chấp (Chyloperitoine). Nhưng việc chẩn đoán và cách thức điều trị như thế nào thì không phải ai cũng biết cách giải quyết. Sau rất nhiều lần đi thăm khám, bệnh nhân được vào điều trị tại khoa nội gan - mật của Quân y viện 108, chính ở đây đã được bác sĩ Vịnh, Phó giáo sư, Phó chủ nhiệm khoa chăm nom và điều trị. Cùng với kinh nghiệm của mình, anh đã mời tôi thăm khám cho bệnh nhân để được điều trị và mổ xẻ nếu có chỉ định. Đây là loại bệnh thật là hiếm gặp, phải suốt mấy chục năm mới chỉ gặp một, hai lần. Đó là một bệnh thuộc bệnh lý của hệ thống tuần hoàn bạch huyết.

Người bệnh cũng đã cùng đường. Mỗi khi đi lại phải có người dìu mới đi được, vì sức khỏe quá yếu, do bệnh tật, do thiểu dưỡng. Cuối cùng người bệnh đã được chẩn đoán cũng như dự kiến các biện pháp điều trị. Người bệnh hoàn toàn tin tưởng và chỉ mong sao được điều trị, cho thoát khỏi cơn hiểm nghèo. Nhưng có một tình tiết rất đáng chú ý. Người bệnh lại là một giáo dân, nên đã xin được cha đạo ở nhà thờ Hàm Long vào làm lễ cho, vào tối đêm hôm trước mổ. Vì là vấn đề về tâm linh và cũng là tạo cho người bệnh được thanh thản trước khi lên bàn mổ. Yêu cầu này đã được khoa Tiết niệu đáp ứng. Người bệnh đã được mổ dẫn lưu mạc treo tràng lớn ra phía thận phải ở khoang sau phúc mạc. Trong lúc mổ cũng đã được kiểm tra toàn ổ bụng và làm sinh thiết hạch. Kết quả sau đó là một bệnh u hạch ác tính, làm tắc ống ngực và tràn dịch dưỡng chấp còn gọi là bạch huyết vào ổ bụng. Sau một tuần lễ, người bệnh được cắt chỉ và hết báng dưỡng chấp, an ngủ được và phục hồi sức khỏe nhanh và đã đi lại được dễ dàng, không còn cần người dìu dắt để đi. Chỉ sau 3 tuần lễ, người bệnh đã được ra viện để trở về Đăklăk với gia đình.

Ở đây cho thấy, dù hoàn cảnh nào, cũng không được bỏ mặc người bệnh. Nếu chưa có kinh nghiệm, chưa biết thì cần tham khảo, bàn bạc, học tập người có kinh nghiệm, tại vì trước đó người bệnh đã bị khước từ điều trị để về nhà chờ tết. Người bệnh mặc dầu bị bệnh hiểm nghèo, nếu được chữa trị săn sóc, dù chỉ là kéo dài đời sống được 5-7 tháng, một hai năm cũng đã là quý lắm rồi. Dù có làm sao cũng đã là do bệnh tật, mà không còn oán hận gì người thầy thuốc nữa, vì đã được chẩn đoán ra bệnh và đã được cứu vớt ra khỏi căn bệnh hiểm nghèo, làm cho người bệnh bớt khổ sở.

Câu chuyện thứ 3:
Bệnh nhân Doãn Thị S một bệnh nhân sản phụ khoa bị tai biến về tiết niệu sinh dục do đẻ khó. Chị là một công nhân viên quốc phòng, công tác ở một đơn vị quốc phòng phía Cầu Giấy. Cách 2 năm của lần cấp cứu này, chị đã bị đẻ khó và phải mổ lấy thai. Bây giờ chị lại có thai lần thứ 2 và vẫn bị đẻ khó. Thời gian này theo phân tuyến điều trị, chị được điều trị và chở đẻ ở một Quân y viện tuyến trước. Ở đây bệnh nhân đã được cho đẻ có chỉ huy bằng thuốc, khi mà tử cung đã mang sẹo do lần mổ trước. Nên đã xảy ra vỡ tử cung cùng vỡ bàng quang. Thai nhi chạy vào ổ bụng. Cũng vì vậy bệnh nhân đã được gửi lên tuyến trên là Quân y viện Trung ương trong tình trạng rất nguy kịch, vì chảy máu trong. Bệnh nhân được chẩn đoán kịp thời và mổ cấp cứu lúc 4h30’ sáng. Tất cả kíp trực ngoại khoa của viện đã tiến hành mổ cắt bỏ tử cung, khâu vá các mảnh rách của bàng quang. Cuộc phẫu thuật khá vất vả và kết thúc vào lúc 8h sáng. Nhưng diễn biến sau mổ không tốt. Bệnh nhân chưa tỉnh, mà máu vẫn chảy nhỏ giọt, mặc dầu vẫn được theo dõi liên tục cùng các biện pháp hồi sức; truyền dịch, truyền máu ở tại phòng mổ. Huyết áp cứ tụt dần.

Thời gian này, người tổng chỉ huy các khoa ngoại là Giáo sư P.G.Tr cũng có mặt từ sáng sớm. Kíp mổ trước tiên do bác sĩ Đ.D.D Phó chủ nhiệm khoa phẫu thuật tim mạch cùng các trợ thủ gồm: Bác sĩ M và một số bác sĩ khác. Tình hình rất khẩn trương. Do có liên quan đến vỡ bàng quang thuộc chuyên khoa tiết niệu, nên viện yêu cầu bác sĩ L.V.L lúc này có Phó chủ nhiệm khoa thay tôi lúc đi vắng, do bận việc của công tác bảo vệ sức khỏe T.Ư bác sĩ L đã lên buồng mổ, nhưng lại chưa có kinh nghiệm, nên cũng không biết can thiệp như thế nào.

Điện thoại luôn réo: là Chủ nhiệm khoa đã về chưa và khoảng 8h30’, tôi đã có mặt ở phòng mổ, vì mới đi công tác về. Vừa gặp anh Tr yêu cầu vào xử trí ngay. Với tính cương nghị nhẹ nhàng, anh Tr bảo: “Yêu cầu làm sao anh mổ cứu được bệnh nhân, không để chết trên bàn mổ, dù sau này bệnh nhân có rò bàng quang - âm đạo, tôi cũng chấp nhận”. Lúc này phải rất khẩn trương. Nhưng làm thế nào để tìm ra nguyên nhân. Khi vẫn còn chảy máu, mặc dầu bàng quang đã được vá lại, mỏm cụt cổ tử cung, âm đạo đã được đóng vá. Phải quyết định cùng anh em thận trọng mở lại tất cả các đường mổ vá vừa đóng xong. Phải bóc tách riêng biệt hai cơ quan, giữa cổ tử cung - âm đạo cùng các nút chỉ vá bàng quang. Cũng nhờ bóc tách riêng biệt hai cơ quan đã phát hiện đường rách bàng quang đi qua gờ hai lỗ niệu quản (vùng tam giác) ra đến tận miệng sáo (lỗ niệu đạo) cùng vết rách âm đạo vẫn chưa được khâu vá lại hết và cầm máu, do kíp mổ trước lại khâu vá kín cả vết rách bàng quang và âm đạo làm một, mà không có bóc tách riêng biệt từng cơ quan một để vá. Lúc này tuy rất khẩn trương, vừa làm, vừa chỉ dẫn cho các anh Tr và bác sĩ Đ, cán bộ của cơ quan y vụ của bệnh viện cùng xem và theo rõi. Người giúp phụ mổ lúc này là bác sĩ L.V.L và nhanh nhẹn thao tác với các động tác thật thuần thục, tiếp tế băng gạc và dụng cụ mổ của cô H, một hộ sỹ ở phòng mổ đã nhiều năm có kinh nghiệm vẫn phụ mổ cho tôi.

Lại một kinh nghiệm nữa của người làm phẫu thuật là không được ngại khó, dù phải dỡ ra làm lại từ đầu, đi tìm cho được nguyên nhân chảy máu thì cầm được máu và khâu riêng rẽ lại từng cơ quan thì sẽ khống chế được và tất nhiên là cứu được người bệnh, đưa ra khỏi cơn nguy kịch. Huyết áp trở lại bình thường nhờ có hồi sức thêm. Bệnh nhân được dẫn lưu bàng quang, âm đạo và theo dõi sát sao. Và chỉ 25 ngày sau, người bệnh đã được lành lặn, không những không bị tử vong trên bàn mổ, mà lại còn không bị rò bàng quang - âm đạo, trở về đoàn tụ với gia đình.
Những ngày sau anh Tr đã động viên và thân mật nói rằng: “Tôi sẽ đề nghị phải khen thưởng anh và nếu không tôi (anh Tr) sẽ lấy phần thịt của tôi hàng tháng để thưởng cho anh”. Tôi rất cám ơn anh Tr và cũng thầm hiểu rằng: “Những lúc khó khăn giữa cái sống và cái chết của người bệnh, thì người chỉ huy phải biết vận dụng, tận dụng khả năng của mọi người, huy động mọi cái có thể để cứu chữa cho người bệnh, phải làm đến cùng và không được chậm trễ, không được dễ dãi bỏ qua, vì mạng người là vô giá”.

Tôi cũng hiểu là anh Tr cũng động viên và nói cho vui thôi. Tiêu chuẩn 1-2kg thịt ở thời kỳ bao cấp là vô cùng quý hiếm mà phải là cán bộ cao cấp mới có được. Nhưng nghĩ lại bây giờ thấy mà buồn cười và cũng là một kỷ niệm ở thời bao cấp. Một cán bộ khoa học cao cấp mới có tiêu chuẩn một vài ki-lô thịt cho một tháng. Nhưng tấm lòng của người thầy thuốc nó thanh bạch như vậy đấy. Việc cấp cứu, mổ xẻ, khám bệnh cho người bệnh dù là hiểm nghèo đến mấy cũng rất là vô tư và được coi là một trách nhiệm phải làm, không có một lời nói nặng với bệnh nhân và mọi người vẫn sống hồn nhiên như thế đấy. Năm tháng đã trôi đi 20-30 năm. Nếu có dịp gặp lại mọi người thì vui biết mấy.

Ở đây cũng cần rút ra một số kinh nghiệm là: Nếu bệnh nhân đã mổ sản lấy con lần có thai nghén trước, thì đến lần thai nghén và đẻ sau, thì không nên cho bệnh nhân đẻ chỉ huy bằng thuốc, vì tử ung mang thai đã có sẹo, dễ làm cho tử cung bị vỡ. Hơn nữa trước khi cho sản phụ đẻ thì bao giờ cũng phải thông đái cho bệnh nhân, vì nếu bàng quang đầy nước tiểu sẽ là vật cản cho thai nhi chuyển dạ xuống dưới.

Kết luận:
Tôi không thể nào quên được tinh thần hăng say nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp, khắc phục khó khăn, để chẩn đoán, điều trị một cách vô tư đầy nhiệt tình của anh Trần Mạnh Chu. Các năm sau này anh cũng là một Giáo sư Tiến sỹ đầu tiên của ngành Tiết niệu quân đội và tôi cũng được thừa hưởng các kinh nghiệm của anh. Tôi cũng không thể nào quên các năm tháng làm nội trú tại Bệnh viện Phủ Doãn, có sự dìu dắt bù đắp cho các thiếu hổng nhờ Giáo sư Tôn Thất Tùng, người thầy kính mến đã tận tình hướng dẫn cho lớp sinh viên chúng tôi ở làng Quẵng của mình, từ kháng chiến về. Tôi cũng không bao giờ quên sự đùm bọc, tạo mọi điều kiện cho anh em nghiên cứu sinh Việt Nam nói chung và bản thân tôi nói riêng của các Giáo sư, thầy cô giáo Liên Xô đã giúp tôi được học tập và nghiên cứu để sau này về phục vụ ở bệnh Khoa tiết niệu Quân y viện 108 có kết quả.

Hà nội, ngày 03 tháng 02 năm 2010
GS.TS, Thầy thuốc nhân dân 
Trần Đức Hòe - Nguyên CNK Ngoại Tiết niệu Bệnh viện TƯQĐ 108

Ghi chú:
1. Các trường hợp kể trên đây vẫn còn ở kho lưu trữ các bệnh án của Bệnh viện, ở các sổ mổ của Khoa Tiết niệu, Sản phụ khoa và Gây mê hồi sức.
2. Đặc biệt vẫn còn nhiều nhân chứng sống như:
Các anh L.V.L, T.Q.H, Bác sỹ M, Chị Th, cô Liên (sản phụ khoa), PGS.V của khoa gan mật, BS Đ(y vụ), cô H (phòng mổ) và nhiều anh chị em khác.