Kỹ thuật xét nghiệm

1. Nguồn gốc và thải trừ:
- Nguồn gốc: Lipase là một enzyme có nguồn gốc duy nhất từ tuyến tụy.
- Chuyển hóa trong cơ thể: Lipase được vận chuyển thông qua các ống tụy vào tá tràng, nó giúp tiêu hóa chất béo trung tính thành các axít béo và glycerol dễ hấp thu. Lipase bình thường hiện diện trong máu với một số lượng nhỏ. Khi các tế bào trong tuyến tụy bị tổn thương, viêm tụy, ống tụy bị chặn do sỏi hoặc hiếm hơn là một khối u tuyến tụy, số lượng lipase vận chuyển vào trong máu tăng, làm tăng nồng độ lipase trong máu.
- Thải trừ: Lipase được lọc qua cầu thận và được ống lượn gần tái hấp thu hoàn toàn.
2. Bản chất của chất của xét nghiệm: Xác định hoạt độ lipase trong máu.
3. Lipase tăng cao trong các trường hợp:
- Trong viêm tụy cấp tính, mức độ lipase thường rất cao, thường cao hơn gấp 5-10 lần so với giá trị tham khảo. Nồng độ lipase thường tăng trong vòng 24-48 giờ sau khi tuyến tụy bị tổn thương cấp tính và vẫn còn cao tới ngày thứ 14.
- Hoạt độ lipase cũng có thể tăng lên do tắc nghẽn ống tụy, ung thư tuyến tụy, và các bệnh về tụy khác.
- Loét dạ dày- tá tràng gây thủng.
- Viêm túi mật cấp.
- Tắc ruột non, nhồi máu ruột.
- Bệnh gan mạn tính.
- Suy thận cấp và mạn tính.
- Viêm phúc mạc.
- Nghiện rượu.
- Một số trường hợp chảy máu nội sọ.
- Một số thuốc có thể làm tăng mức độ lipase: codeine, indomethacin và morphine.

4. Lipase giảm trong các trường hợp:
- Mức độ lipase giảm có thể do tổn thương vĩnh viễn các tế bào sản xuất lipase trong tuyến tụy. Điều này có thể xảy ra trong các bệnh mạn tính gây ảnh hưởng đến tuyến tụy như xơ nang.

5. Chỉ định xét nghiệm:
- Chẩn đoán các rối loạn chức năng tụy, đặc hiệu hơn xét nghiêm amylase.
- Chẩn đoán viêm phúc mạc, nghẹt ruột hoặc nhồi máu ruột, nang giả tụy.
- Trị số bình thường trong máu: < 67U/L.

6. Cách lấy mẫu:
- Mẫu máu lấy vào buổi sáng: 2ml máu, không chống đông hoặc chống đông bằng lithiheparin, EDTA.
- Thời gian làm xét nghiệm mất 1 giờ. Trước khi làm bệnh nhân cần nhịn ăn trước đó 8-12 giờ.

Khoa Sinh hóa – Bệnh viện TƯQĐ 108